Hiểu cho đúng
Nhãn vùng và nhãn văn phong nói gì?
Hai nhãn nhỏ bên mỗi nét nghĩa quyết định từ có hợp câu bạn đang viết không. Nhãn vùng cho biết từ dùng ở đâu: cả Nam Bộ, Sài Gòn, miền Đông, miền Tây, hay một tỉnh. Nhãn văn phong cho biết từ hợp văn nào: thân mật, lời cũ, người trẻ, trang trọng.
Viết cho người viết và người dịch cần biết từ nào đi được tới đâu, và cho người biên tập cần đặt nhãn cho đúng.
Nhãn vùng là gì?
Là ghi chú bên nét nghĩa cho biết từ dùng ở đâu: Nam Bộ chung, Sài Gòn, miền Đông, miền Tây, một tỉnh, hoặc một vùng nhỏ khi có chứng cứ. Từ không có nhãn vùng là từ đã vào văn viết chung, dùng ở đâu cũng được.
- Nam Bộ
- Dùng khắp vùng: hổng, dữ, thiệt.
- Sài Gòn
- Lớp đô thị: bạc xỉu, xe lam, cà phê bệt.
- miền Tây
- Vùng sông nước: tía, cà ràng, miệt thứ.
- một tỉnh
- Chỉ khi có chứng cứ ở mức tỉnh.
Nhãn vùng đặt theo chứng cứ gì?
Theo nơi chứng liệu và ghi âm cho thấy từ được dùng. Một từ có câu trích từ Sơn Nam và ghi âm ở Cần Thơ được nhãn miền Tây. Một từ chỉ nghe ở một xóm thì nhãn vùng nhỏ, không nhãn cả miền Tây. Nhãn không đặt theo cảm giác của người biên tập.
Nhãn văn phong là gì?
Là ghi chú cho biết từ hợp văn nào: thân mật cho từ dùng giữa người quen, lời cũ cho từ chỉ người lớn tuổi dùng, người trẻ cho từ sinh trong nhóm bạn và trên mạng, trang trọng cho từ dùng trong giấy tờ. Từ không nhãn là từ dùng được ở mọi bậc.
- thân mật
- Lời nói, tin nhắn, lời thoại: dữ, hén, tui.
- lời cũ
- Người lớn tuổi còn dùng: qua, bậu, la de.
- người trẻ
- Còn đang đổi: chảnh, quẩy, xịn.
- trang trọng
- Giấy tờ, phát biểu: dạng chuẩn của từ Hán Việt.
Nhãn văn phong đặt theo chứng cứ gì?
Theo loại văn bản và người nói trong chứng liệu. Từ chỉ thấy trong lời thoại và ghi âm được nhãn thân mật. Từ chỉ thấy ở người trên một tuổi được nhãn lời cũ. Từ chỉ thấy ở người trẻ và trên mạng được nhãn người trẻ. Nhãn đi theo chứng cứ, và đổi khi chứng cứ đổi.
Hai nhãn có đi cùng nhau không?
Có, và thường. Tía là miền Tây và không nhãn văn phong, vì dùng ở mọi bậc trong vùng. Qua là Nam Bộ và lời cũ. Bạc xỉu là Sài Gòn và không nhãn văn phong. Đọc cả hai nhãn mới biết từ đứng đâu trên cả hai trục nơi và văn.
Nhãn đặt ở từ hay ở nét nghĩa?
Ở nét nghĩa, vì một từ có thể khác nhãn ở từng nét. Bao theo nét trả tiền không nhãn, theo nét chắc chắn có nhãn người trẻ và thân mật. Đặt nhãn ở từ là làm mất sự khác ấy. Từ điển VietLayers đặt nhãn ở từng nét.
Dùng nhãn để chọn từ thế nào?
Hỏi hai câu về câu mình đang viết: người đọc ở đâu, văn bản bậc nào. Rồi chọn từ có nhãn khớp. Bài cho cả nước ở bậc bài tin thì chọn từ không nhãn. Lời thoại nhân vật miền Tây thì chọn từ nhãn miền Tây và thân mật. Nhãn làm việc chọn thành việc so.
Từ không có nhãn nào là từ thế nào?
Là từ đã vào văn viết chung và dùng được ở mọi vùng, mọi bậc: miệt vườn, ghe, xuồng, chợ nổi. Không nhãn không có nghĩa là từ điển quên, mà là từ ấy không cần giới hạn. Từ điển ghi rõ không nhãn khác với chưa xét.
Nhãn có đổi theo thời gian không?
Có. Từ người trẻ có thể mất nhãn khi nó vào văn viết chung, như xịn. Từ thân mật có thể thành lời cũ khi người trẻ thôi dùng. Từ điển cập nhật nhãn khi chứng cứ mới cho thấy từ đã đổi chỗ, và ghi năm để người đọc thấy nhãn ở thời nào.
Nhãn có bao giờ sai không?
Có, khi chứng cứ ít. Một từ ghi ở một xóm có thể được nhãn hẹp hơn thật, và khi có thêm chứng cứ thì nhãn mở ra. Sai theo hướng hẹp là sai an toàn. Sai theo hướng rộng là gán một từ xóm cho cả vùng, và từ điển tránh hướng này.
Nhãn tuổi có phải nhãn văn phong không?
Là một dạng của nó. Lời cũ và người trẻ thật ra là nhãn tuổi của người dùng, và từ điển gọi chung là nhãn văn phong vì tuổi người dùng quyết định từ hợp văn nào. Khi cần, mục từ ghi thêm tuổi ranh giới nếu chứng cứ cho phép.
Nhãn nghề có không?
Có, cho từ chỉ người làm một nghề dùng: lờ, đó, nò cho nghề bắt cá, gác kèo cho nghề ăn ong. Nhãn nghề đi cùng nhãn vùng, và cho biết từ này ngoài nghề ít ai biết. Bài về từ có phạm vi dùng hẹp trong cụm này nói rõ.
Người biên tập đặt nhãn theo thứ tự nào?
Gom chứng liệu và ghi âm trước, nhìn nơi và người của từng chứng cứ, rồi mới đặt nhãn cho từng nét. Không đặt nhãn từ cảm giác rồi đi tìm chứng cứ cho khớp. Nhãn là kết luận từ chứng cứ, không phải giả thuyết.
Thấy nhãn sai thì làm gì?
Gửi chứng cứ ngược lại: một câu, nơi gặp, tuổi người nói. Nếu bạn nghe một từ nhãn miền Tây được dùng đều ở Sài Gòn, câu bạn gửi là chứng cứ để mở nhãn. Từ điển sửa nhãn theo chứng cứ, không theo ý kiến.
Nên tập đọc nhãn từ đâu?
Tra năm từ thường dùng và chỉ đọc nhãn: dữ, tía, qua, miệt vườn, xịn. Năm từ ấy cho đủ các nhãn thường gặp, và sau lần đó, nhìn nhãn là biết từ đứng đâu mà không cần đọc hết mục.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Cùng giải thích cho bài Tra và dùng từ điển tiếng miền Nam thế nào, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.