Hiểu cho đúng

Một mục từ gồm những phần nào?

Một mục từ không phải một đoạn giải nghĩa mà là một bộ phần, mỗi phần trả lời một câu hỏi khác nhau: từ này là gì, thuộc loại nào, nghĩa nhanh là gì, có mấy nét nghĩa, đọc ra sao, viết cách nào khác, từ đâu mà có, và ai đã dùng nó. Biết từng phần là biết đọc mục từ nhanh: người vội đọc hai phần đầu, người viết đọc thêm ví dụ và nhãn, người nghiên cứu đọc tới chứng liệu.

Viết cho người mới dùng từ điển, để biết mỗi phần của mục từ để làm gì và đọc tới đâu là đủ.

Mục từ gồm những phần nào?

Tám phần theo thứ tự: đầu mục, từ loại, nghĩa nhanh, các nét nghĩa với ví dụ, phát âm, biến thể, nguồn gốc, và chứng liệu văn học. Hai phần đầu cho người vội, phần nét nghĩa và ví dụ cho người viết, ba phần cuối cho người nghiên cứu.

đầu mục
Từ được tra, ở dạng tiêu biểu.
từ loại
Danh từ, động từ, tính từ, hoặc nhiều loại.
nghĩa nhanh
Một câu trả lời thẳng.
nét nghĩa
Từng nghĩa riêng, có ví dụ.

Đầu mục là gì và chọn dạng nào?

Là từ được tra, viết ở dạng tiêu biểu nhất, thường là dạng Nam Bộ nếu từ có hai dạng: chơn chánh chứ không phải chân chính. Ngay dưới đầu mục là dạng đối chiếu, để ai tra bằng dạng nào cũng thấy dạng kia.

Từ loại ghi gì?

Ghi từ là danh từ, động từ, tính từ, đại từ, hay tiếng đệm, và ghi nhiều loại khi từ có nhiều cách dùng. Bao vừa là động từ theo nghĩa cũ vừa là từ nhấn theo nghĩa mới, và từ loại ghi cả hai để người đọc không ngạc nhiên khi thấy hai nét nghĩa rất khác.

Nghĩa nhanh là gì?

Là một câu trả lời thẳng câu hỏi từ này nghĩa là gì và dùng ở đâu, đặt ngay đầu mục để người vội đọc xong là đi. Nghĩa nhanh có bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Nó không thay các nét nghĩa, nó tóm chúng lại.

Nét nghĩa là gì và xếp thế nào?

Là từng nghĩa riêng của từ, mỗi nét có định nghĩa và ví dụ. Nét xếp theo mức thường gặp trong chứng liệu: nét gặp nhiều xếp trước, nét hiếm xếp sau. Mỗi nét có nhãn vùng và nhãn văn phong riêng, vì một từ có thể thân mật ở nét này mà chung ở nét kia.

Ví dụ trong nét nghĩa lấy từ đâu?

Từ hai nguồn: ví dụ biên tập do VietLayers viết để cho thấy cách dùng thường, và câu trích từ chứng liệu khi có. Ví dụ biên tập ghi rõ là biên tập, câu trích ghi rõ tác giả. Ví dụ là chỗ đáng tin nhất của mục từ, vì nó cho thấy cách dùng thật chứ không phải cách giải thích.

Phần phát âm ghi gì?

Ghi cách đọc Nam Bộ bằng ký hiệu ngữ âm, với năm thanh và các cặp nhập của hệ âm Nam Bộ. Từ có biến thể phát âm theo vùng thì ghi thêm. Phần này cho người học nghe theo và cho người nghiên cứu dẫn lại.

Phần biến thể ghi gì?

Ghi các dạng khác của từ: dạng viết khác như chân cho chơn, dạng vùng như tía cho ba, dạng thời như dạng cũ và dạng mới. Mỗi biến thể có nhãn để biết nó khác ở đâu, và bấm được sang mục của nó nếu có.

Phần nguồn gốc ghi gì?

Ghi từ thuộc lớp nào: Việt gốc, Hán Việt, mượn Khmer, Hoa, Pháp, hay lớp khác, kèm chữ Hán cho từ Hán Việt, dạng gốc cho từ mượn, và mức chắc chắn. Khi chưa đủ chứng cứ, phần này ghi chưa rõ thay vì đoán.

Phần chứng liệu ghi gì?

Ghi những câu trích từ văn học Nam Kỳ có dùng từ, kèm tác giả, tác phẩm và vị trí. Đây là phần chứng minh từ có thật, có nghĩa như đã ghi, và có từ bao giờ. Mục nào có hai chứng liệu độc lập là mục đã chắc.

Người vội đọc tới đâu?

Đầu mục và nghĩa nhanh, hai phần đầu, là đủ để biết từ nghĩa gì và dùng ở đâu. Nếu câu mình gặp không khớp nghĩa nhanh, đọc thêm nét nghĩa đầu tiên. Ba phần ấy chiếm chưa tới một phần ba mục từ.

Người viết đọc tới đâu?

Tới hết các nét nghĩa và nhãn của chúng, và đọc kỹ ví dụ. Nhãn vùng và nhãn văn phong quyết định từ có hợp câu mình không. Ví dụ cho thấy từ đứng cạnh từ nào. Phần biến thể cũng cần, để chọn dạng viết cho bài.

Người nghiên cứu đọc tới đâu?

Tới hết, và đọc kỹ ba phần cuối: phát âm để có dữ liệu âm, nguồn gốc để biết mức chắc, chứng liệu để có mốc thời gian và để kiểm lại. Người nghiên cứu cũng đọc chỗ mục từ ghi chưa rõ, vì đó là chỗ còn việc để làm.

Mục từ có phần nào cho người học không?

Có phần luyện ở cuối mục với câu hỏi ngắn về nghĩa và cách dùng, và phần phát âm để nghe. Người học nên đọc nghĩa nhanh, nghe phát âm, đọc ví dụ, rồi làm phần luyện. Thứ tự ấy là thứ tự học một từ.

Mục từ có ghi nơi VietLayers tra một từ không?

Không. Mục từ ghi tác phẩm văn học và công trình nghiên cứu mà nó dựa vào, có tên tác giả và tên sách. Nó không ghi trang tra từ trên mạng, vì VietLayers tự viết định nghĩa và không lấy định nghĩa của ai.

Cùng giải thích cho bài Tra và dùng từ điển tiếng miền Nam thế nào, còn bài nào?

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.