Âm: cổ
Bính âm (Pinyin): gǔ
Mặt trống da bịt vang rền giục giã lòng người.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Bộ thứ 207 trong 214 bộ thủ Khang Hy (13 nét): Mặt trống da bịt vang rền giục giã lòng người.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Bộ cổ (鼓): Mặt trống da bịt vang rền giục giã lòng người.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 鼓 (34)
Phần thân nối đầu với mình (mỏi cổ, bá cổ); phần áo ôm quanh cổ (cổ áo); chữ 古 là xưa, lâu đời (đồ cổ, vọng cổ); còn là đại từ Nam Bộ gọi tắt cô ấy.
Phần trên cùng của cái áo, chỗ ôm quanh cổ người mặc; có khi là cái miệng áo chỗ đó.
Giữ khư khư lối nghĩ, lối sống xưa cũ, không chịu theo cái mới.
Xưa cũ quá, không còn hợp với thời bây giờ; quê kệch theo lối xưa.
Thuộc về thời rất xưa, lúc mọi thứ mới có, còn mộc mạc, chưa được sửa sang hay pha trộn.
Chữ viết của người thời rất xưa, nay không còn ai dùng, muốn đọc phải dò tìm.
Thời xưa và thời nay gộp lại; chuyện từ trước tới giờ.
Tiếng nói của một dân, một xứ ở thời xưa, khác với tiếng người ta nói bây giờ.
Là khúc thắt giữa bàn tay với cánh tay, chỗ đeo vòng, chỗ người ta nắm lấy khi muốn giữ ai lại, và cũng là cái thước đo bề to của một vật.
Là cây sống đã lâu đời, gốc lớn tàng rộng, nên trong truyện nó thành cái mốc của một vùng và cái mẫu của sự vững.
Lối văn viết của người xưa, khác với lối văn viết theo tiếng nói bây giờ.
Món đồ có từ đời xưa còn lại tới nay, quý vì tuổi của nó.
Đời nay và đời xưa gộp lại; từ xưa tới giờ.
Là theo khuôn mẫu xưa đã thành chuẩn, và trong lời nói thường thì nó nghĩa là cũ rích, ai cũng biết trước.
Nói, viết cho nhiều người biết rồi làm theo một việc hay mua một món hàng; rao ra cho người ta theo.
Là chỗ trong cổ mà tiếng nói và miếng ăn cùng đi qua, nên trong truyện nó là chỗ tiếng bị nghẹn lại khi người ta xúc động.
Có vẻ xưa cũ, trang nghiêm, gợi lại thời trước.
Người đời xưa, nhứt là những người để lại lời hay, việc làm cho đời sau noi theo.
Một phần vốn bằng nhau trong số vốn của một hãng, ai giữ thì có phần trong hãng đó.
Có hình dạng lạ lùng, khác hẳn cái thường thấy, nhìn thấy kỳ.
Là chuyện xưa truyền miệng, có vua có tiên có phép lạ, người ta kể cho con nít nghe chớ không ai hỏi thiệt hay không.
Nhớ tiếc thời xưa, thương mến những gì thuộc về ngày trước.
Là ngành đào đất tìm đồ xưa để biết đời trước sống ra sao, tức là đọc quá khứ bằng vật chớ không bằng sách.
Là đuổi thẳng ra khỏi nhà hoặc khỏi sở, không nể nang gì, nên nó luôn hàm cái nhục cho người bị đuổi.
Là điệu ca tài tử của miền Nam, câu dài xuống giọng ở chữ chót, và là điệu nền của sân khấu cải lương.
Một lối thơ xưa, làm rộng rãi hơn, không bị bó buộc niêm luật chặt như thơ Đường luật.
Bị nghẹn nơi cổ vì xúc động, giận hay tủi quá, nói không ra lời.
Là vặn cổ lại mà ngó ra sau trong khi người vẫn đi tới, nên nó khác quay lại ở chỗ chỉ có cái cổ quay.
Đời xưa xa lắm; trong lối nói ra người thiên cổ, hóa ra người thiên cổ thì ý là người đó đã mất rồi.
Là truyền lại từ đời xưa và còn giữ tới nay, nên nó nói về cái nếp chớ không nói về cái cũ đã bỏ.
Cây to đã sống rất nhiều năm, thân lớn, rễ sâu, tàn rộng, thường thấy trong rừng, bên đình miếu hay trong vườn xưa.
Chuyện kể từ đời xưa truyền lại, thường có vua chúa, tiên, phép lạ, người ta kể cho con nít nghe hay giữ làm vốn chuyện cũ của một dân tộc.
Chuyện kể từ đời xưa truyền lại, thường có phép lạ, tiên, công chúa, kể cho con nít nghe.
Bướng bỉnh, ai dạy biểu gì cũng không chịu nghe, cứ làm theo ý mình.