Nghĩa chữ
Chữ 敢 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 敢 (36)
Cảm tình xấu, lòng không ưa, thấy ghét hay nghi ngại đối với một người hay một điều.
Nói lời biết ơn, tỏ lòng biết ơn người đã giúp mình, cho mình, theo lối trang trọng.
Là dễ động lòng trước mọi cảnh, vui cũng rung mà buồn cũng rung, nên người đa cảm sống nặng hơn người khác.
Lấy lòng tốt, lời phải, nết ăn ở của mình làm cho kẻ khác động lòng mà bỏ điều xấu, theo điều lành.
Thấy ưa thích, quý mến một người vì cảm được cái tốt, cái dễ thương nơi họ.
Nói thần linh thấu được lòng thành của người cúng vái và đáp lại.
Cái làm lòng rung lên; và ở Nam Bộ nó dùng như động từ: người ta cảm xúc.
Cái thấy mình kém người, nó nằm sẵn trong lòng chớ không do ai nói ra; nghĩa rộng là bất cứ cảm giác nào ám ảnh trong lòng, như mặc cảm phạm tội, mặc cảm tự tôn.
Động lòng, rung động trước một cảnh, một lời hay một chuyện; cũng chỉ chính cái rung động đó.
Là lòng bị lay tới mức muốn khóc, nên nó khác thương ở chỗ nó là một cơn tới rồi đi, và nó thường tới vì một lời nói hay một cử chỉ.
Là cái biết tới từ thân hoặc từ lòng mà chưa thành ý nghĩ, nên nó vừa nói cái nóng lạnh trên da vừa nói cái linh cảm mơ hồ.
Nỗi bùi ngùi dấy lên trong lòng khi nghĩ tới phận mình hay tới chuyện đã qua.
Sự rung động trong lòng khiến người ta muốn làm thơ, đàn hát hay sáng tác; cũng dùng như động từ chỉ lúc lòng rung động như vậy.
Thấy lòng mình rung động và biết ơn trước lòng tốt, sự lo lắng của người khác dành cho mình.
Tự mình thấy ra, biết ra một điều bằng lòng mình hay bằng giác quan, không cần ai nói.
Thấy người ta giỏi, tốt hay nói phải mà động lòng, đem lòng nể và quý.
Rung động mạnh trong lòng trước cái đẹp hay điều cao xa, tới mức ngây ngất.
Lối hiểu, lối xét bằng điều lòng mình thấy, không qua suy nghĩ hay lời giải thích.
Là cái bụng có thiện ý với ai, chưa tới mức thương, và trong tiếng Nam Bộ nó còn làm động từ: cảm tình ai đó.
Gan dạ, dám đương đầu với chuyện khó, chuyện nguy mà không sợ, không lùi.
Lòng hai bên gặp nhau, hiểu nhau và rung động cùng nhau mà không cần nói ra.
Cảm biết trước một điều trong bụng, không có dấu hiệu gì mà vẫn thấy như vậy.
Lòng xúc động nhẹ nhàng mà sâu, như dây đờn rung lên, trước một cái đẹp, một kỷ niệm hay một tình cảm.
Cái phần biết thương biết buồn trong người, rộng hơn tình yêu và đứng đối với lý trí; cũng là mối thương mến giữa hai người, và nói về tánh người thì là nhiều hay ít cái đó.
Tiếng nói lịch sự khi nhờ người ta chịu khó một chút vì mình, hay xin người ta bỏ qua, đừng buồn lòng.
Hiểu được lòng nhau mà thương nhau, không cần nói nhiều.
Cái mình thấy như là vậy, chưa chắc đúng mà cứ thấy như vậy.
Cảm tình tốt, lòng mến người khác ngay từ lúc mới gặp hay mới biết.
Hiểu được lòng nhau tới mức thấy như của mình, và cái hiểu đó.
Thấy mình thua kém, nhỏ nhoi hay có lỗi trước người khác nên rụt rè, sượng sùng, mất tự tin.
Động lòng mà thương một người, nhứt là khi thấy người đó cực khổ, buồn tủi hay gặp chuyện không may.
Thấy trong lòng như là có chuyện gì đó mà chưa chắc là thiệt, hay thấy một cảm xúc dâng lên trong người.
Thấy mến, thấy ưa một người, có lòng thiện cảm nhưng chưa tới mức thương yêu.
Hiểu được và cùng rung động với tâm trạng, nỗi lòng của người khác hay với cảnh vật quanh mình.
Hiểu được nỗi lòng của người khác như chính mình thấy, và chia sẻ với họ cái cảm xúc đó.
Thấy trong lòng như là có chuyện gì đó, nghĩ rằng hình như vậy, dầu không chắc chuyện đó có thiệt.