Mềm và thanh, nói về dáng người con gái khi đi khi đứng.
Tiếng Anh: Supple and slender, said of a girl's bearing in walking and standing.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Mềm và thanh, nói về dáng người con gái khi đi khi đứng.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Trong kho văn Nam Bộ nó gần như luôn nói cái dáng, và hay đứng sau hai chữ tướng đi: tướng đi yểu điệu, tướng đi đã yểu điệu mà tiếng nói lại trong ngần. Nó cũng đứng sau chữ vóc, chữ vóc dáng, chữ nét: vóc yểu điệu, vóc dáng yểu điệu của cô Huôi, những nét yểu điệu mềm mại nhứt. Nó làm trạng từ cho một bước đi: yểu điệu bước về bàn. Nó đi cặp với mỹ miều, mềm mại, thanh tao. Và kho văn còn cho nó qua cái không phải người, khi mấy chậu cau vàng quặc qua quặc lại mà có vẻ yểu điệu.
🇬🇧 In the Southern corpus it nearly always speaks of bearing, and commonly follows the phrase for a person's walk. It also follows the words for a figure and for lines. It serves as an adverb to a step. It pairs with words for comeliness, suppleness and elegance. And the corpus passes it over to what is not a person, a few pots of yellow palm bending this way and that with a willowy air.
Thí dụ:
Ái Vi đi từng bước nhẹ nhàng thoải mái, nàng nhún nhẩy và yểu điệu bước về bàn.
Ai Vi walked with light easy steps, springing and willowy as she went to the table.
Nguồn: Dung Sàigòn, Những Giọt Long LanhCái tên nó yểu điệu và đẹp như tên con gái, nhưng khỏe và chạy nhanh có hạng.
Its name was willowy and pretty as a girl's, yet it was strong and a fine fast runner.
Nguồn: Dung Sàigòn & Võ Hà Anh, Lối Cỏ Mù SươngXuân Sơn là trai nên mạnh mẽ, bậm trợn, còn Thu Thủy là gái nên yểu điệu, mỹ miều.
Xuan Son being a boy was strong and rough, while Thu Thuy being a girl was willowy and comely.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Sống thác với tìnhNhưng cái bồng bột mà Tư Thiện ao ước trước tiên là vóc dáng yểu điệu của cô Huôi.
But the first headlong thing Tu Thien longed for was Huoi's willowy figure.
Nguồn: Sơn Nam, Bà Chúa HònĐó là những nét yểu điệu mềm mại nhứt trên nền trời xanh thẳm, trong vắt.
Those were the most willowy and supple lines against a sky deep blue and clear.
Nguồn: Sơn Nam, Vạch Một Chân TrờiCô Xuyến có sắc đẹp, nước da trắng, gương mặt vui, nói chuyện có duyên, tướng đi yểu điệu.
Xuyen had beauty, white skin, a cheerful face, charming talk and a willowy walk.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vợ già chồng trẻBên đường mấy chậu Cau vàng quặc qua quặc lại, ngó lâu có cái vẻ yểu điệu mà lại thanh tao.
By the road a few pots of yellow palm bent this way and that, and looked long at had a willowy and elegant air.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ đờiĐã vậy mà còn thêm tướng đi yểu điệu miệng cười có duyên, ngón tay no tròn, nước da trắng đỏ.
And besides that a willowy walk, a charming smile, plump fingers and a white and rosy skin.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tơ hồng vương vấnGương mặt đã hữu duyên mà bàn tay lại dịu nhiễu; tướng đi đã yểu điệu, mà tiếng nói lại trong ngần.
The face was charming and the hand soft as silk, the walk willowy and the voice clear as glass.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùaVóc yểu điệu, da trắng trong, tay dịu dàng, răng nhỏ rứt, cậu ngó một hồi cặp mắt cậu lừ đừ dở say dở tỉnh.
A willowy figure, clear white skin, gentle hands, small even teeth, and looking a while his eyes grew heavy, half drunk and half awake.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Từ hônTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Ái Vi đi từng bước nhẹ nhàng thoải mái, nàng nhún nhẩy và yểu điệu bước về bàn.”“Cái tên nó yểu điệu và đẹp như tên con gái, nhưng khỏe và chạy nhanh có hạng.”“Xuân Sơn là trai nên mạnh mẽ, bậm trợn, còn Thu Thủy là gái nên yểu điệu, mỹ miều.”“Nhưng cái bồng bột mà Tư Thiện ao ước trước tiên là vóc dáng yểu điệu của cô Huôi.”“Đó là những nét yểu điệu mềm mại nhứt trên nền trời xanh thẳm, trong vắt.”“Cô Xuyến có sắc đẹp, nước da trắng, gương mặt vui, nói chuyện có duyên, tướng đi yểu điệu.”“Bên đường mấy chậu Cau vàng quặc qua quặc lại, ngó lâu có cái vẻ yểu điệu mà lại thanh tao.”“Đã vậy mà còn thêm tướng đi yểu điệu miệng cười có duyên, ngón tay no tròn, nước da trắng đỏ.”