Quãng cuối của một đời người, lúc sức đã yếu đi.
Tiếng Anh: The last stretch of a life, when the strength has gone.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Quãng cuối của một đời người, lúc sức đã yếu đi.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Trong kho văn Nam Bộ nó hay đứng sau chữ lúc, chữ trong mà làm trạng ngữ: an ủi lúc tuổi già, yên lòng trong tuổi già. Nó đi liền với sức yếu mà thành một cụm quen: tuổi già sức yếu. Nó là cái đè và là cái bị tố giác: tuổi già của ông càng đè nặng hai vai, những nếp nhăn ở đuôi mắt đã tố cáo tuổi già của chị. Có một lối nói riêng đáng để ý, là ba chữ trăm tuổi già, dùng để nói chuyện qua đời mà khỏi phải nói tiếng chết: chừng nào cha trăm tuổi già. Và kho văn còn cho cái tuổi đó luôn cho một thành phố.
🇬🇧 In the Southern corpus it commonly follows the words for at the time of and within, to make a time phrase. It joins a phrase for failing strength to make a set pair. It is a weight that presses, and a thing betrayed by the lines at the corners of an eye. One turn is worth noting, a phrase about reaching a hundred years, used to speak of dying without saying the word. And the corpus gives such an age to a city as well.
Thí dụ:
Bác và mẹ cháu thương nhau và cùng tìm được ở nhau những an ủi lúc tuổi già.
He and my mother love each other and have each found comfort in the other in old age.
Nguồn: Dung Sàigòn, Bước Khẽ Nhé EmCon nuôi cha, chừng nào cha trăm tuổi già thì con trở về nhà phụng sự cha mẹ con.
I shall keep my father, and when he has reached his hundred years I shall go home and serve my own parents.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Hai vợCó lẽ Sàigòn ngày nay đã đến tuổi già dặn của một chốn định cư lâu đời rồi.
Perhaps Sai Gon today has reached the ripe age of a long settled place.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đò DọcCòn dì thì dì sẽ yên lòng trong tuổi già khi được biết con sống sung sướng cạnh Huấn.
As for me, I shall be easy in my old age knowing you live happily beside Huan.
Nguồn: Dung Sàigòn, Những Giọt Long LanhMỗi khi tiết trời lập đông là cơ thể rêm nhức, tuổi già của ông càng đè nặng hai vai.
Whenever winter set in his body ached, and his old age pressed the heavier on his shoulders.
Nguồn: Sơn Nam, Hương Rừng Cà MauTuổi già sức yếu, ông có tật thức vào đầu canh năm rồi ngồi bên căn chái phía sau đình.
Old and weak, he had a habit of waking at the fifth watch and sitting in the lean to behind the shrine.
Nguồn: Sơn Nam, Biển Cỏ Miền TâyTôi nhìn cụ gầy guộc da nhăn nheo như táo tầu mà thấy buồn buồn, thương thương tuổi già.
I looked at the old man, gaunt and wrinkled as a dried jujube, and felt a little sad and tender towards old age.
Nguồn: Dung Sàigòn, Êm Ả Một ĐờiLúc thầy tuổi già đây thầy không được hưởng, mà đến ngày sau hai con cũng không được nhờ.
In my old age I shall have no benefit of it, and in days to come you two will have no help from it either.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Đoá hoa tànTôi thương xót cho tuổi già của ông: trò chơi ấy ngụ nhiều ý nghĩa!
I pitied his old age, for that game held a great deal of meaning.
Nguồn: Sơn Nam, Hình Bóng CũChị soi gương thoa kem dưỡng da nhưng những nếp nhăn ở đuôi mắt đã tố cáo tuổi già của chị.
She looked in the glass and put on face cream, but the lines at the corners of her eyes told her age.
Nguồn: Dung Sàigòn, Không Còn Là Ngày XưaTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Bác và mẹ cháu thương nhau và cùng tìm được ở nhau những an ủi lúc tuổi già.”“Con nuôi cha, chừng nào cha trăm tuổi già thì con trở về nhà phụng sự cha mẹ con.”“Có lẽ Sàigòn ngày nay đã đến tuổi già dặn của một chốn định cư lâu đời rồi.”“Còn dì thì dì sẽ yên lòng trong tuổi già khi được biết con sống sung sướng cạnh Huấn.”“Mỗi khi tiết trời lập đông là cơ thể rêm nhức, tuổi già của ông càng đè nặng hai vai.”“Tuổi già sức yếu, ông có tật thức vào đầu canh năm rồi ngồi bên căn chái phía sau đình.”“Tôi nhìn cụ gầy guộc da nhăn nheo như táo tầu mà thấy buồn buồn, thương thương tuổi già.”“Lúc thầy tuổi già đây thầy không được hưởng, mà đến ngày sau hai con cũng không được nhờ.”