Buồn nhè nhẹ, lan tỏa mơ hồ không rõ vì đâu; cũng tả cảnh rộng lớn bao la.
Tiếng Anh: Of sadness, faint and pervasive, with no clear cause; also of a scene, vast and open.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Buồn nhè nhẹ, lan tỏa mơ hồ không rõ vì đâu; cũng tả cảnh rộng lớn bao la.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Kho văn dùng nó nhiều nhứt trong nỗi buồn man mác, buồn man mác, tức một cái buồn nhẹ, không dữ dội mà thấm dai dẳng. Nó cũng tả cảnh trời, trăng, gió bao la, như trời chiều man mác, gió trăng man mác. Nó hay đi với buồn, ngậm ngùi và mênh mông.
🇬🇧 The corpus uses it most in a vague sadness, a gentle melancholy, a sorrow not violent but lingering. It also describes a vast sky, moon or wind, as in a hazy evening sky or wind and moonlight spreading wide. It often goes with sad, wistful and boundless.
Thí dụ:
Phượng tàn tạ bay, ve nỉ non kêu và tỉnh lỵ ngó man mác như một khúc sông dài.
The flame tree blossoms fell withered, the cicadas trilled, and the provincial town looked wistful as a long stretch of river.
Nguồn: Từ Kế Tường, Đường Phượng BayNhưng Linh, chỉ có Linh, cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm cả tâm hồn.
But Linh, only Linh, felt a vague sadness pervade her whole soul.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Hoa Trinh NữHà Anh ngồi yên trong bóng hoàng hôn, lòng nàng như hòa hợp với vạn vật buồn man mác.
Ha Anh sat still in the dusk, her heart seeming at one with all things in their vague sorrow.
Nguồn: Ngọc Linh, Trên Sông Hoàng HônLời ca yêu kiều trong gió, quyện một nỗi buồn man mác.
The lovely song in the wind was laced with a faint melancholy.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Vó Ngựa Cầu ThuHoặc đau khổ hơn, man mác hơn, ta nhớ nơi cố quán mà không biết cố quán của ta thuộc tỉnh nào, xóm nào.
Or more painful, more wistful still, we long for our native place without knowing which province or hamlet it belongs to.
Nguồn: Sơn Nam, Nói Về Miền NamNỗi nhớ cứ man mác mãi và lẩn lút mãi, khiến tôi có cảm giác rằng đó chỉ là cái buồn mà người Pháp gọi là cafard.
The longing lingered on and hid away, giving me the feeling that it was only the blues the French call cafard.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Diễm PhượngTrời biển mênh mông, gió trăng man mác.
Sky and sea were boundless, wind and moonlight spreading wide.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Chút phận linh đinhỞ đây sáo gợi ngậm ngùi man mác, tiếc thương nhè nhẹ xa xôi, chớ không gây đau khổ mạnh của thứ sáo thổi theo lề lối.
Here the flute evokes a gentle wistfulness, a faint distant regret, rather than the sharp pain of flutes played in the conventional way.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Hoa Hậu Bồ ĐàoTrời chiều man mác, ngọn gió lao rao.
The evening sky was hazy, the breeze blowing gently.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Khóc thầmTôi nhìn theo Hưng đi khuất trong đám đông và nghe man mác buồn như kỷ niệm đi theo Hưng cũng vừa tan theo làn sóng người biến mất.
I watched Hung disappear into the crowd and felt a vague sadness, as if the memories that went with him had dissolved into the tide of people too.
Nguồn: Dung Sàigòn & Võ Hà Anh, Dễ GhétTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Phượng tàn tạ bay, ve nỉ non kêu và tỉnh lỵ ngó man mác như một khúc sông dài.”“Nhưng Linh, chỉ có Linh, cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm cả tâm hồn.”“Hà Anh ngồi yên trong bóng hoàng hôn, lòng nàng như hòa hợp với vạn vật buồn man mác.”“Lời ca yêu kiều trong gió, quyện một nỗi buồn man mác.”“Hoặc đau khổ hơn, man mác hơn, ta nhớ nơi cố quán mà không biết cố quán của ta thuộc tỉnh nào, xóm nào.”“Nỗi nhớ cứ man mác mãi và lẩn lút mãi, khiến tôi có cảm giác rằng đó chỉ là cái buồn mà người Pháp gọi là cafard.”“Trời biển mênh mông, gió trăng man mác.”“Ở đây sáo gợi ngậm ngùi man mác, tiếc thương nhè nhẹ xa xôi, chớ không gây đau khổ mạnh của thứ sáo thổi theo lề lối.”