Cuống quít, luống cuống, hoảng lên không biết làm gì trước.
Tiếng Anh: Flustered and flapping; in a panic, not knowing what to do first.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Cuống quít, luống cuống, hoảng lên không biết làm gì trước.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Kho văn gần như luôn kéo theo sau nó cái hậu quả của sự luống cuống: lính quýnh không biết đường chạy, lính quýnh không trả lời được, lính quýnh không biết đâu mà trốn, lính quýnh mở cửa không được. Cái cớ thường là một chuyện bất ngờ: tin dữ, lửa cháy, khách quý tới, người thương hiện ra. Nó cũng dùng khi người ta mừng quá hay hồi hộp quá mà cuống lên. Nó là tiếng rất miền Nam, hay gặp trong truyện xưa.
🇬🇧 The corpus almost always follows it with the result of the panic: not knowing where to run, unable to answer, not knowing where to hide, unable to open a door. The cause is usually something sudden: bad news, fire, an honoured guest, a loved one appearing. It is also used when joy or excitement makes someone flustered. It is a very Southern word, common in older fiction.
Thí dụ:
Bá Vạn lại lính quýnh, chạy vô nhà đem cái ghế thứ nhì ra cho ông Chúa Hòn ngồi.
Ba Van was flustered again and ran into the house to fetch a second chair for Lord Hon to sit on.
Nguồn: Sơn Nam, Bà Chúa HònTrường Khanh lính quýnh, nên chạy riết xuống bếp rinh luôn lò lửa đem lên.
Truong Khanh was in a panic, so he dashed down to the kitchen and carried the whole stove up.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ai làm đượcTư Cầu lính quýnh ngó tớ ngó lui một hồi rồi bỏ chạy qua bên con trâu Sấm.
Tu Cau, flustered, looked this way and that for a while, then ran over to the buffalo Sam.
Nguồn: Lê Xuyên, Chú Tư CầuNàng kinh khủng không dám bước ra, nên cứ lính quýnh tại cửa đó hoài.
Terrified, she dared not step out, and kept flapping about at that door.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nặng gánh cang thườngHai người nhìn nhau nửa mừng nửa tủi, lính quýnh không trả lời được.
The two looked at each other, half glad half tearful, too flustered to answer.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nhơn tình ấm lạnhCô lính quýnh, vói lấy nghiên mực cầm đi vô trong đổ một chút nước đặng mài mực mà viết.
Flustered, she reached for the inkstone and took it inside to add a little water to grind ink and write.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tơ hồng vương vấnNó lính quýnh không biết đâu mà trốn cho kịp, bèn núp dựa cửa chờ.
He panicked, not knowing where to hide in time, so he hid behind the door and waited.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cay đắng mùi đờiCậu Hai Hùng lên thì lên, chớ chuyện gì mà lính quýnh như vậy.
Let young Hai Hung come up if he likes; what is there to be in such a flap about.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ đờiCậu lính quýnh đi bậy bạ nên lầm lỡ rồi cậu hổ thẹn.
He blundered about in a panic and went astray, and then was ashamed.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ tìnhTồn kêu lên thất thanh rồi lính quýnh, anh xô ngã cả chơn đèn, lư đồng mà vẫn không dập tắt được ngọn lửa.
Ton cried out wildly, then in his panic knocked over the candlestick and the bronze urn and still could not put out the flame.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Mưa Thu Nhớ TằmTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Bá Vạn lại lính quýnh, chạy vô nhà đem cái ghế thứ nhì ra cho ông Chúa Hòn ngồi.”“Trường Khanh lính quýnh, nên chạy riết xuống bếp rinh luôn lò lửa đem lên.”“Tư Cầu lính quýnh ngó tớ ngó lui một hồi rồi bỏ chạy qua bên con trâu Sấm.”“Nàng kinh khủng không dám bước ra, nên cứ lính quýnh tại cửa đó hoài.”“Hai người nhìn nhau nửa mừng nửa tủi, lính quýnh không trả lời được.”“Cô lính quýnh, vói lấy nghiên mực cầm đi vô trong đổ một chút nước đặng mài mực mà viết.”“Nó lính quýnh không biết đâu mà trốn cho kịp, bèn núp dựa cửa chờ.”“Cậu Hai Hùng lên thì lên, chớ chuyện gì mà lính quýnh như vậy.”