Nghĩa của “khốn kiếp” là gì?
Tiếng chửi nặng, nói người hay vật đáng ghét, tồi tệ hết sức, làm mình tức giận.
Tiếng Anh: A strong term of abuse for a person or thing one finds utterly hateful and vile.
Các nét nghĩa và giải thích chi tiết của “khốn kiếp”:
1 nét nghĩa🇻🇳 Khốn kiếp là tiếng chửi nặng, dùng khi giận ai lắm hay bực một vật gì lắm. Trong kho văn Nam Bộ nó đứng sau thằng, đồ để kêu người mình khinh ghét: thằng khốn kiếp, đồ khốn kiếp. Có khi người ta chửi luôn con vật làm mình bực. Đây là lời nặng, không dùng ở chỗ lịch sự.
🇬🇧 It is a strong curse, used when one is very angry at someone or very annoyed by something. In the Southern corpus it follows a word for a despised person, as in thang khon kiep or do khon kiep. People sometimes also curse an animal that bothers them. It is a harsh word, not used in polite company.
Thí dụ:
Nếu nó nói như vậy thì nó là đồ khốn kiếp quá, nó đi đâu thì đi cho rảnh, cậu thương tiếc làm gì.
If that is what they said, then they are a damned wretch; let them go wherever they like and good riddance, why should you pine for them.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cha con nghĩa nặngThằng Thủ Hiệp là thằng khốn kiếp em giận nó làm gì.
That Thu Hiep is a damned scoundrel, why bother being angry at him.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nhơn tình ấm lạnhCon dán khốn kiếp bay nhởn nhơ trong đó.
The damned cockroach was flying about in there without a care.
Nguồn: Dung Sàigòn & Võ Hà Anh, Dễ GhétTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“Nếu nó nói như vậy thì nó là đồ khốn kiếp quá, nó đi đâu thì đi cho rảnh, cậu thương tiếc làm gì.”“Thằng Thủ Hiệp là thằng khốn kiếp em giận nó làm gì.”“Con dán khốn kiếp bay nhởn nhơ trong đó.”Câu hỏi thường gặp về “khốn kiếp”
“khốn kiếp” nghĩa là gì?
Tiếng chửi nặng, nói người hay vật đáng ghét, tồi tệ hết sức, làm mình tức giận.
“khốn kiếp” được dùng trong câu như thế nào?
Một câu trong Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh: “Nếu nó nói như vậy thì nó là đồ khốn kiếp quá, nó đi đâu thì đi cho rảnh, cậu thương tiếc làm gì.”
Tiêu chuẩn thẩm định ngữ liệu tại VietLayers
Mức đối chiếu của mục từ được ghi ở đầu trang. Dẫn chứng có tên tác giả và tác phẩm được trình bày riêng với thí dụ biên soạn. Dẫn chứng về cách dùng không tự xác nhận nguồn gốc của từ. Phần chưa đủ căn cứ cần được đối chiếu thêm.