Nghĩa của “cầu hòa” là gì?
Xin bên kia thôi đánh nhau hay thôi giận nhau, để hai bên êm thấm trở lại.
Tiếng Anh: To ask the other side to stop fighting or quarrelling so that things are calm between the two again.
Các nét nghĩa và giải thích chi tiết của “cầu hòa”:
1 nét nghĩa🇻🇳 Cầu hòa là mình mở lời trước, xin bên kia đừng gây gổ, đừng đánh nữa. Trong kho văn Nam Bộ nó nói chuyện giữa các nước, các thế lực: cống hiến để cầu hòa, cầu hòa với người Lang Sa. Nó cũng nói giỡn chuyện bạn bè giận nhau: nhờ người khác cầu hòa giùm. Sau nó hay có chữ với, rồi tới bên được xin.
🇬🇧 It means speaking first and asking the other side to stop quarrelling or fighting. In the Southern corpus it is used between countries and powers: to offer tribute in order to sue for peace, to seek peace with the French. It is also used playfully of friends who have fallen out, when someone else is asked to make peace on their behalf. It is often followed by the word for with and then the side being asked.
Thí dụ:
An Dương Vương bèn bắt Lý Thân cống hiến cho vua Tàu để cầu hòa.
King An Duong then had Ly Than handed over as tribute to the Chinese emperor in order to sue for peace.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủMuốn được yên thân, cậu nên cầu hòa với người Lang Sa.
If you want to be left in peace, you should seek peace with the French.
Nguồn: Sơn Nam, Bà Chúa HònNó nhờ anh cầu hòa luôn, phải không?
So that one got you to sue for peace too, is that it?
Nguồn: Từ Kế Tường, Mùa Áo VàngTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“An Dương Vương bèn bắt Lý Thân cống hiến cho vua Tàu để cầu hòa.”“Muốn được yên thân, cậu nên cầu hòa với người Lang Sa.”“Nó nhờ anh cầu hòa luôn, phải không?”Câu hỏi thường gặp về “cầu hòa”
“cầu hòa” nghĩa là gì?
Xin bên kia thôi đánh nhau hay thôi giận nhau, để hai bên êm thấm trở lại.
“cầu hòa” được dùng trong câu như thế nào?
Một câu trong Chuyện Xưa Tích Củ của Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình: “An Dương Vương bèn bắt Lý Thân cống hiến cho vua Tàu để cầu hòa.”
Tiêu chuẩn thẩm định ngữ liệu tại VietLayers
Mức đối chiếu của mục từ được ghi ở đầu trang. Dẫn chứng có tên tác giả và tác phẩm được trình bày riêng với thí dụ biên soạn. Dẫn chứng về cách dùng không tự xác nhận nguồn gốc của từ. Phần chưa đủ căn cứ cần được đối chiếu thêm.