Nghĩa của “bách khoa” là gì?
Gồm đủ mọi ngành hiểu biết; nói về sách gom kiến thức của nhiều ngành lại một chỗ.
Tiếng Anh: Covering every branch of knowledge; said of books that gather knowledge from many fields in one place.
Các nét nghĩa và giải thích chi tiết của “bách khoa”:
1 nét nghĩa🇻🇳 Bách khoa là gồm đủ các ngành hiểu biết. Trong kho văn Nam Bộ nó đi với sách: sách thuộc loại bách khoa mua về coi chơi để hiểu sơ qua mọi vấn đề, mấy bộ sách bách khoa in màu bày trong tủ kiếng.
🇬🇧 It means covering all branches of knowledge. In the Southern corpus it goes with books: books of the general-knowledge kind bought to read for pleasure and get a rough idea of every subject, and sets of encyclopedic books printed in colour on display in a glass case.
Thí dụ:
Thỉnh thoảng lật báo xem tử vi, mua đủ thứ sách thuộc loại bách khoa xem chơi, để hiểu sơ qua mọi vấn đề.
Now and then to leaf through the paper for the horoscope, to buy all sorts of general-knowledge books to read for fun, so as to get a rough idea of every subject.
Nguồn: Sơn Nam, Hình Bóng CũSuốt đêm mấy ngọn đèn nê ông vẫn để sáng, giữa tủ kiếng mấy bộ sách bách khoa in màu, chiếu ngời đủ ánh xanh, đỏ, tím, vàng.
All night the neon lamps were left on, and in the middle of the glass case the sets of encyclopedic books printed in colour shone with blue, red, purple and yellow light.
Nguồn: Sơn Nam, Biển Cỏ Miền TâyTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“Thỉnh thoảng lật báo xem tử vi, mua đủ thứ sách thuộc loại bách khoa xem chơi, để hiểu sơ qua mọi vấn đề.”“Suốt đêm mấy ngọn đèn nê ông vẫn để sáng, giữa tủ kiếng mấy bộ sách bách khoa in màu, chiếu ngời đủ ánh xanh, đỏ, tím, vàng.”Câu hỏi thường gặp về “bách khoa”
“bách khoa” nghĩa là gì?
Gồm đủ mọi ngành hiểu biết; nói về sách gom kiến thức của nhiều ngành lại một chỗ.
“bách khoa” được dùng trong câu như thế nào?
Một câu trong Hình Bóng Cũ của Sơn Nam: “Thỉnh thoảng lật báo xem tử vi, mua đủ thứ sách thuộc loại bách khoa xem chơi, để hiểu sơ qua mọi vấn đề.”
Tiêu chuẩn thẩm định ngữ liệu tại VietLayers
Mức đối chiếu của mục từ được ghi ở đầu trang. Dẫn chứng có tên tác giả và tác phẩm được trình bày riêng với thí dụ biên soạn. Dẫn chứng về cách dùng không tự xác nhận nguồn gốc của từ. Phần chưa đủ căn cứ cần được đối chiếu thêm.