Bộ thủTự thân
Số nétChưa xác định
Phân loạiHán Việt
Từ vựng liên kết24 từ

Nghĩa chữ

Chữ 砂 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.

Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 砂 (22)

Xem tất cả từ điển
sađộng từ

Rơi hay hạ từ trên cao xuống (mưa sa, sương sa, sa xuống); rơi vô, mắc vô một cảnh, một chỗ khó thoát (sa vào bẫy, sa vào cảnh khổ).

Phương ngữ Nam Bộ
sa cơquán ngữ

`Sa cơ` là lâm vô cảnh khó khăn, thất thế hoặc gặp vận rủi (*fall on hard times; fall into adversity*), thường gặp trong `lúc sa cơ`, `người sa cơ`, `sa cơ lỡ vận`. Cụm mang sắc thái văn chương hoặc lời nói có hơi cũ; nó thường chỉ một hoàn cảnh bất lợi đáng kể hơn một trục trặc nhỏ thoáng qua, nhưng không tự khẳng định cảnh đó kéo dài, người đó nghèo, mất hết địa vị hay không thể hồi phục. Không suy từ `sa cơ` rằng người gặp nạn có lỗi, thiếu năng lực, phạm pháp hoặc cần được quyết định thay. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, có thể diễn tự nhiên là `lâm cảnh khó`, `gặp lúc thất thế`, `gặp cơn hoạn nạn`; `sa cơ lỡ vận` vẫn dễ hiểu trong cải lương, truyện và lời có nhịp xưa. Phân biệt `sa cơ` với `sa chân` thiên về bước lầm vô tình thế, `thất cơ` hiếm/cũ và `sa sút` là giảm dần về mức độ. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa đàđộng từ, tính từ

`Sa đà` là bị cuốn quá sâu hoặc dành quá nhiều thời gian, tiền bạc hay tâm trí cho một việc tới mức khó tự dừng hoặc xao lãng việc cần thiết (*become carried away; get excessively absorbed*): `sa đà vào trò chơi`, `chơi bời sa đà`. Từ thường mang ý chê hoặc cảnh báo, nhưng mức `quá` phải dựa vô hoàn cảnh và hệ quả chứ không chỉ vô sở thích của người nói. `Sa đà` không tự chứng minh nghiện, bệnh, yếu ý chí, vô trách nhiệm, vi phạm pháp luật hay thất bại; các kết luận đó cần bằng chứng riêng. Phân biệt `mê mải` có thể tích cực/trung tính, `đắm chìm` nhấn trạng thái chìm sâu, `sa đắm` văn chương và thường nặng sắc thái hưởng thụ, còn `sa lầy` nhấn sự mắc kẹt khó thoát. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `ham quá rồi sa đà`, `sa đà vô chuyện ăn chơi` tự nhiên; văn viết dùng `sa đà vào`. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa didanh từ

`Sa di` (cũng viết `sa-di`) là người xuất gia trong Phật giáo đã thọ giới tập sự/giới sa di nhưng chưa thọ giới Cụ túc (*Buddhist novice monastic; sāmaṇera*). Thuật ngữ đi qua dạng Hán `沙彌`, vốn phiên âm từ ngôn ngữ Ấn Độ; hai chữ trong toàn cụm làm nhiệm vụ ghi âm, không được tách máy móc thành nghĩa `cát` và `đầy`. Trong nhiều cách gọi tiếng Việt, `sa di` thường chỉ vị nam và `sa di ni` chỉ vị nữ; cách phân hạng, tuổi, số giới và lộ trình thọ giới có thể khác theo truyền thống, nên không đóng đinh một mô hình cho mọi cộng đồng. Không giải là `hạng tu thấp nhất`, `chú tiểu` hay `trẻ tu` cho mọi trường hợp: người sa di có thể là người trưởng thành, và `chú tiểu` là cách gọi rộng/thân mật hơn. Dùng danh xưng tôn trọng như `vị sa di`; không suy tuổi, học lực, thâm niên, thẩm quyền hay phẩm hạnh từ danh xưng. Đây là thuật ngữ Phật giáo toàn dân, không riêng Nam Bộ; tại Sài Gòn có thể gặp trong chùa thuộc nhiều truyền thống. Tab Hán Nôm ghi trọn `沙彌` theo chứng tích trực tiếp.

Phương ngữ Nam Bộ
sa bàndanh từ

`Sa bàn` là mô hình ba chiều biểu diễn địa hình, một khu đất, cụm công trình hoặc cách bố trí trong không gian, thường theo tỉ lệ thu nhỏ (*terrain model; scale model; site model*). Từ điển cũ từng giải hẹp là hộc cát dùng huấn luyện binh lính; nghĩa hiện nay rộng hơn, gặp trong quân sự, quy hoạch, kiến trúc, bảo tàng, giáo dục và diễn tập. Sa bàn có thể thiên về minh họa hoặc mô phỏng; tên gọi không tự bảo đảm đúng tỉ lệ tuyệt đối, đúng hiện trạng, đã được phê duyệt, an toàn xây dựng hay có giá trị pháp lý về ranh đất. Phân biệt `sa bàn` ba chiều với `bản đồ` phẳng, `sơ đồ` lược giản và `mô hình` là từ rộng hơn. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `coi sa bàn dự án` tự nhiên nhưng phải xem chú giải để biết đây là phương án, hiện trạng hay hình dung quảng bá. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa bồidanh từ

`Sa bồi` là cát, bùn hoặc đất phù sa do dòng nước mang tới rồi bồi tụ dần, cũng có thể chỉ phần bồi tích hình thành từ quá trình đó (*alluvial deposit; accreted sediment*). Đây là từ địa lý và thủy văn ít gặp trong lời hằng ngày; `đất bồi`, `bãi bồi`, `phù sa bồi tụ` thường dễ hiểu hơn ở Sài Gòn và Nam Bộ. `Phù sa` có thể nói vật liệu do nước mang nói rộng, còn `sa bồi` nhấn phần được bồi đắp tại một chỗ; ranh khoa học phải theo tài liệu chuyên ngành. Tên gọi không tự xác định thành phần hạt, tốc độ bồi, độ ổn định, độ phì, ranh giới, quyền sở hữu, khả năng xây dựng hay mức an toàn. Không lẫn `sa bồi` với `xói lở`, quá trình làm mất đất. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa đắmđộng từ, tính từ

`Sa đắm` là say mê quá độ, thường nghiêng về thú vui, ham muốn hoặc một mối cuốn hút khiến người ta khó giữ chừng mực (*be deeply or excessively absorbed; overindulge*). Từ có sắc thái văn chương, cũ và phê bình; tổ hợp cũ `sa đắm tửu sắc` không có nghĩa rằng mọi lần dùng đều liên quan rượu hay tình dục. Cần nêu rõ đối tượng `sa đắm trong/vào điều gì` và tránh dùng từ như nhãn đạo đức cho sở thích, quan hệ hoặc đời sống riêng của người khác. `Sa đắm` không tự chứng minh nghiện, bị thao túng, mất năng lực quyết định, phạm pháp hay không thể thay đổi. Phân biệt `say mê` có thể tích cực, `đắm say` thiên về cảm xúc mãnh liệt, `sa đà` thông dụng hơn cho việc đi quá mức và `sa ngã` là phán xét về đường hành vi. Trong lời Sài Gòn hôm nay, từ nghe cổ; nên diễn `mê quá mức`, `ham quá`, `chìm trong thú vui` tùy câu. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa lầyđộng từ

`Sa lầy` có hai nét: (1) sa vô chỗ lầy, khiến chân, xe hoặc vật di chuyển bị lún và khó thoát (*get stuck/bogged down in mud*); (2) nghĩa chuyển, mắc sâu trong tình thế, công việc, tranh luận hoặc xung đột khó tháo gỡ (*become bogged down; become mired*). Nghĩa đen không tự cho biết độ sâu, mức hư hại, nguy cơ hay cách cứu kéo; nghĩa chuyển không tự chứng minh thất bại, lỗi, tham nhũng, bế tắc vĩnh viễn hoặc không còn giải pháp. `Sa lầy` thường nhấn trạng thái mắc kẹt đã hình thành, trong khi `lầy lội` tả mặt đất, `sa chân` nhấn bước hụt và `trì trệ` nhấn tiến triển chậm. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `xe sa lầy`, `sa lầy giữa đường sình`, `chuyện làm ăn bị sa lầy` đều tự nhiên; `sình` là từ vùng gần với bùn nhão. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa mạcdanh từ

Vùng đất cát khô cằn, mênh mông, ít mưa, cây cỏ khó mọc; hay dùng để ví cảnh trống trải, cô đơn.

Tiếng Việt phổ thông
sa ngãđộng từ

Rơi vô đường sai trái, hư hỏng, như ham chơi bời, tiền bạc bất chánh; từ đánh giá đạo đức mạnh, thường gặp trong lời răn, lời tiếc.

Phương ngữ Nam Bộ
sa sầmđộng từ

Bỗng tối lại, nặng nề hẳn xuống; thường nói về nét mặt đang vui chợt buồn bực hay giận.

Phương ngữ Nam Bộ
sa sẩyđộng từ

`Sa sẩy` là động từ ít dùng có hai nét: (1) đồ vật, hạt hoặc một phần hàng bị rơi rụng, thất lạc hay hao hụt trong lúc chứa, mang, vận chuyển (*be lost, fall away, be shed*); (2) nghĩa chuyển cũ/hiếm, mắc sai sót hoặc lầm lỡ (*make a mistake, lapse*). Từ không tự cho biết lượng mất, nguyên nhân, người chịu trách nhiệm, mức thiệt hại hay lỗi có nghiêm trọng; các dữ kiện ấy phải được kiểm đếm hoặc nêu riêng. Trong lời hiện nay, kể cả Sài Gòn và Nam Bộ, `rơi vãi`, `hao hụt`, `thất lạc`, `sai sót`, `sơ suất` thường rõ và tự nhiên hơn. Phân biệt `sa sẩy` với `sơ sẩy` là thiếu cẩn thận, `sẩy` là tuột/rơi khỏi chỗ, và `sa sút` là trở nên kém dần. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa sútđộng từ, tính từ

`Sa sút` chỉ sự giảm sút hoặc trở nên kém dần so với chính tình trạng trước đó (*decline, deteriorate, fall off*). Từ dùng cho hoàn cảnh kinh tế/gia thế, sức khỏe, tinh thần, năng lực, kết quả học tập và làm việc, chất lượng hoặc uy tín; nó mô tả chiều đi xuống chứ không tự xác định nguyên nhân, tốc độ, mức độ, tính lâu dài hay khả năng hồi phục. `Sa sút` không đồng nghĩa phá sản, bệnh nặng, thất bại hoàn toàn hoặc kém phẩm chất. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, tùy câu có thể nói `làm ăn sa sút`, `học hành xuống`, `sức khỏe yếu đi`, `phong độ xuống`; `xuống dốc` thường mạnh và giàu đánh giá hơn. Phân biệt với `sút` là giảm đơn lẻ, `giảm sút` có thể nói mức giảm, `sa cơ` là lâm cảnh khó và `sa ngã` là đánh giá đường hành vi. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích toàn cụm đủ trực tiếp.

Phương ngữ Nam Bộ
sa vàocụm động từ

Rớt vô, lọt vô một chỗ khó thoát ra, như cái bẫy, cái lưới, một cảnh khổ hay mưu kế của người khác.

Phương ngữ Nam Bộ
sa chânđộng từ

`Sa chân` có hai nét: (1) bước hụt hoặc đặt chân vô chỗ thấp, mềm, trơn hay nguy hiểm rồi bị sụt/mắc/ngã (*misstep, lose one's footing*); (2) nghĩa chuyển, lâm vô hoàn cảnh hoặc đường đi không hay, khó thoát (*fall into an undesirable situation*). Cụm từ không tự cho biết người đó bị thương, mắc kẹt, có lỗi, phạm pháp hay không thể sửa sai. Nghĩa chuyển thường mang sắc thái cảnh báo hoặc tiếc nuối; cần tránh dùng để kỳ thị người đang gặp khó khăn. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `sa chân xuống sình`, `sa chân vô chỗ lầy`, `lỡ sa chân` tự nhiên; văn viết chung thường dùng `sa chân vào`. Phân biệt `sa chân` với `trượt chân` là chân trượt, `sẩy chân` là bước hụt và `lỡ bước` thường thiên về nghĩa chuyển. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Phương ngữ Nam Bộ
sa lôngdanh từ

Tiếng mượn tiếng Pháp salon, cũng viết xa lông: chỗ tiếp khách trong nhà; bộ ghế tiếp khách gồm ghế dài và ghế đơn (bộ sa lông, ghế sa lông); còn là phòng trưng bày bán xe (sa lông xe).

Phương ngữ Nam Bộ
bộ sa lôngdanh từ

Trọn bộ ghế bàn để tiếp khách trong phòng khách, gồm mấy chiếc ghế với cái bàn nhỏ, chỗ chủ nhà mời khách ngồi uống nước, nói chuyện.

Phương ngữ Nam Bộ
đất phù sadanh từ

Thứ đất do nước sông chở bùn cát tới rồi lắng xuống, bồi dần lên thành bãi, thành đất.

Phương ngữ Nam Bộ
ghế sa lôngdanh từ

Ghế nệm lớn có chỗ dựa lưng và tay vịn, thường kê trong phòng khách để ngồi tiếp khách, nói chuyện.

Phương ngữ Nam Bộ
phú lang sadanh từ riêng

Phú Lang Sa là tên cũ của nước Pháp, phiên âm từ France, nói tắt là Lang Sa.

Phương ngữ Nam Bộ
hằng hà sa sốthành ngữ

Nhiều không biết bao nhiêu mà kể, nhiều tới mức đếm không xuể.

Tiếng Việt phổ thông
bộ ghế sa lôngdanh từ

Bộ ghế tiếp khách đồng bộ, thường gồm ghế dài, ghế bành có nệm và bàn nhỏ, đặt nơi phòng khách; sa lông vay từ tiếng Pháp salon.

Phương ngữ Nam Bộ

Toàn bộ từ ghép Hán Việt có chứa chữ 砂 (2 từ)

Tra cứu mạng lưới từ vựng