咬
Chữ Nôm Dân Tộc

Âm: khẩu

Bảng 214 bộ thủ và chiết tự
Bộ thủ口
Số nét9 nét
Phân loạiChữ Nôm
Từ vựng liên kết3 từ

Nghĩa chữ

Chữ ghép từ 2 phần: 口 bên trái, 交 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ khẩu 口, nghĩa là miệng.

Chiết tự và cấu tạo hình tượng

Chữ ghép từ 2 phần: 口 bên trái, 交 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ khẩu 口, nghĩa là miệng.

Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)

Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 咬 (3)

Xem tất cả từ điển
raođộng từ, danh từ

Cất tiếng gọi mời mua dọc đường (rao hàng, bán rao); loan báo cho nhiều người biết, bằng lời hay bằng giấy, báo (truyền rao, lời rao, bản rao bán); trong rêu rao là nói tung ra cho thiên hạ biết; còn là câu nhạc dạo tự do trước khi vô bản trong đờn ca tài tử (câu rao).

Phương ngữ Nam Bộ
rao hàngđộng từ

`Rao hàng` là cất tiếng hoặc dùng phương tiện truyền thông để giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và mời người mua: `tiếng rao hàng`, `rao hàng ngoài chợ`, `rao hàng trên báo/mạng` (*to hawk; tout; advertise goods*). Nghĩa gốc gắn rõ với lời gọi trực tiếp của người bán rong, chợ và phố; từ điển cũng ghi cách rao hàng qua báo, nên cụm không bị giới hạn ở việc nói lớn. Lời rao hàng có thể nêu món, giá hay đặc điểm, nhưng không tự xác nhận chất lượng, nguồn gốc, giấy phép hoặc điều kiện bán. Phân biệt với `rao bán` nhấn món cụ thể được đưa ra bán, `chào hàng` thiên đề nghị giao dịch, `quảng cáo` là phạm vi truyền thông rộng hơn và `tiếng rao` có thể không nhằm bán hàng. Tiếng rao trong hẻm, chợ và phố Sài Gòn là một ngữ cảnh văn hóa quan trọng, nhưng `rao hàng` không chỉ thuộc Nam Bộ. Tab chỉ ghi Nôm `咬` cho thành tố rao; chưa gán chữ cho `hàng` nghĩa hàng hóa khi nguồn đối chiếu chưa đủ trực tiếp. Ghi chú cách dùng (không dùng làm bí danh): Sài Gòn và Nam Bộ: tiếng rao trong hẻm, chợ và phố. Ngữ cảnh văn hóa đô thị quan trọng, không phải nghĩa riêng biệt.

Phương ngữ Nam Bộ
rao giảngđộng từ

`Rao giảng` là (1) truyền đạt công khai và nhiệt thành một giáo lý, đức tin, đạo lý hay hệ tư tưởng cho nhiều người (*to preach; proclaim; evangelize*); và (2) trong lời chê, nói dài theo giọng dạy đời hoặc áp chuẩn mực lên người khác khi họ không yêu cầu (*to preach at; lecture*). Hoạt động rao giảng tôn giáo không mặc nhiên là ép buộc; phải xét quyền lựa chọn, bối cảnh và cách truyền đạt. Ngược lại, gọi một lời giải thích là `rao giảng` thường biểu lộ thái độ của người nói, không tự chứng minh nội dung sai hay người trình bày đạo đức giả. Phân biệt với `giảng dạy` có cấu trúc học tập, `thuyết giảng` trang trọng, `truyền giáo` rộng hơn về hoạt động truyền bá đức tin và `lên lớp` là lời chê khẩu ngữ. Trong lời Nam Bộ, `nói như lên lớp`, `dạy đời hoài` là đối ứng sắc thái chê, không thay cho nghĩa tôn giáo trung tính. Tab ghi Nôm `咬` cho rao và Hán Việt `講` cho giảng đúng thành tố.

Phương ngữ Nam Bộ