Gọi nhau bằng tiếng gì, và tự gọi mình bằng tiếng gì, trong một cuộc nói.
Tiếng Anh: The terms by which two people call each other, and call themselves, in a conversation.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Gọi nhau bằng tiếng gì, và tự gọi mình bằng tiếng gì, trong một cuộc nói.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Xưng là tự gọi mình, hô là gọi người kia. Ghép lại thì nó là cả một cặp tiếng, và đổi cặp đó là đổi mối quan hệ. Vì vậy trong kho văn Nam Bộ nó luôn luôn là chuyện người ta để ý tới: lối xưng hô thân mật khiến Bích nghe khó chịu, Hiển mới chú ý đến lối xưng hô mới, tôi nhận ra lối xưng hô của mình lộn xộn. Đổi qua bà bà tôi tôi là sắp gây, còn đổi qua anh em là đã thân.
🇬🇧 The first element is to name oneself and the second to name the other, so together they are a whole pair of terms, and changing the pair changes the relation. So in the Southern corpus it is always something people notice: an intimate pair that makes a listener uncomfortable, a new pair that catches attention, one's own pair gone into disorder. A shift to the formal pair means a quarrel is coming; a shift to the intimate one means closeness has arrived.
Thí dụ:
Thúy đã trở lại lối xưng hô trong đám đánh lộn, xưng "em" chớ không "tôi" nữa.
Thuy had gone back to the way of address of the brawl, saying I as a younger sister and not as an equal.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đừng Hỏi Tại SaoLối xưng hô thân mật của người khách nầy lại khiến Bích nghe khó chịu trở lại.
This guest's familiar way of address made Bich uncomfortable again.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Tỳ Vết Tâm LinhTôi cũng nhận ra lối xưng hô của mình lộn xộn, khi thì xưng tên, lúc xưng tôi.
I noticed too that my own way of address was in disorder, now by name, now as I.
Nguồn: Từ Kế Tường, Đường Phượng BayCó lẽ hắn quên mất đi tên tuổi của hắn, hay hắn không muốn xưng hô ra làm gì.
Perhaps he had forgotten his own name, or did not want to give a term of address at all.
Nguồn: Xuân Vũ, Vượt Trường Sơn 1 - Đường Đi Không ĐếnHiển bấy giờ mới chú ý đến lối xưng hô mới của người bạn gái cao niên của chàng.
Only then did Hien notice his elderly woman friend's new way of address.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Nhìn Xuân Người KhácKhi đã phải xưng hô bà bà, tôi tôi với nhau là bắt đầu muốn gây gổ nhau rồi.
Once two people have to address each other as madam and madam, they are beginning to want a fight.
Nguồn: Dung Sàigòn & Võ Hà Anh, Ngày Xưa Chân SáoKhông hiểu sao Hiếu lại xưng hô như vậy, vì thật ra nàng chưa thân lắm với Hoàng.
It was not clear why Hieu used such a term of address, since in truth she was not yet close to Hoang.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Hoa Hậu Bồ ĐàoNàng xưng hô như vậy một cách rất tự nhiên, như là đã xưng hô từ lâu rồi.
She used that term of address quite naturally, as though she had used it long since.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đèn Cần GiờCông cũng buột mồm mà xưng hô thân mật bằng hai tiếng "anh, em" như Nhan hôm trước.
Cong too let slip and used the intimate terms elder and younger, as Nhan had the other day.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Nửa Đêm Trãng SụpTiếng xưng hô anh em của Chín Thuộc làm cho Sơn Nhỏ khó chịu quay nhìn sang chỗ khác.
Chin Thuoc's terms of address as elder and younger brother made Son Nho uncomfortable enough to look away.
Nguồn: Lê Xuyên, Vợ Thầy HươngTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Thúy đã trở lại lối xưng hô trong đám đánh lộn, xưng "em" chớ không "tôi" nữa.”“Lối xưng hô thân mật của người khách nầy lại khiến Bích nghe khó chịu trở lại.”“Tôi cũng nhận ra lối xưng hô của mình lộn xộn, khi thì xưng tên, lúc xưng tôi.”“Có lẽ hắn quên mất đi tên tuổi của hắn, hay hắn không muốn xưng hô ra làm gì.”“Hiển bấy giờ mới chú ý đến lối xưng hô mới của người bạn gái cao niên của chàng.”“Khi đã phải xưng hô bà bà, tôi tôi với nhau là bắt đầu muốn gây gổ nhau rồi.”“Không hiểu sao Hiếu lại xưng hô như vậy, vì thật ra nàng chưa thân lắm với Hoàng.”“Nàng xưng hô như vậy một cách rất tự nhiên, như là đã xưng hô từ lâu rồi.”