Mất thăng bằng mà rớt xuống đất, xuống nước hay ngồi phịch xuống, mà sách phổ thông gọi là ngã.
Tiếng Anh: To fall, losing one's balance and dropping to the ground or into water, or sinking down onto a seat.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Mất thăng bằng mà rớt xuống đất, xuống nước hay ngồi phịch xuống, mà sách phổ thông gọi là ngã.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Té là tiếng người Nam nói việc mất thăng bằng mà rớt xuống, mà sách phổ thông gọi là ngã. Chữ đi sau cho biết té ra sao: té ngồi, té quỵ, té xỉu, té xuống nước, té xe đạp. Té ngồi là khuỵu người ngồi phịch xuống ghế hay xuống đất; té quỵ là sụm gối xuống; té xỉu là ngất đi mà ngã. Trong kho văn, người ta hay té ngồi lúc khóc, lúc kêu lên hay lúc bàng hoàng, và té quỵ vì cười quá. Người Nam có câu ướt như chuột té mương, nghĩa là ướt từ đầu tới chơn. Một câu trong kho văn đặt té và ngã cạnh nhau, cho thấy hai chữ cùng nghĩa. Té ra là chữ khác, nghĩa là hóa ra, không bàn ở mục nầy.
🇬🇧 It is the Southern word for losing one's balance and falling, where standard books write another word. The word after it tells how: dropping onto a seat, falling to the knees, fainting and falling, falling into water, falling off a bicycle. To drop onto a seat is to sink down heavily onto a chair or the ground; to fall to the knees is for the legs to give way; to faint and fall is to black out. In the corpus people drop down like this when they weep, cry out or are stunned, and fall to their knees from laughing too hard. A Southern saying compares someone soaked through to a rat fallen into a ditch. One sentence in the corpus puts this word and the standard one side by side, showing they mean the same. Followed by the word for out, it is a different expression meaning it turns out, not covered here.
Thí dụ:
Như buổi chiều té xe đạp, Hiếu nghe cả một giàn nhạc đại tấu trong lòng nàng.
As on the afternoon she fell off her bicycle, Hieu heard a whole orchestra playing inside her.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Hoa Hậu Bồ ĐàoÔng đã ướt như chuột té mương và bắt đầu lập cập dưới gió từng cơn thổi đến.
He was already soaked like a rat fallen into a ditch and began to shiver in the gusting wind.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đò DọcHồi té, anh không sợ bao nhiêu, đoán nước dưới ấy giỏi lắm tới ngực là cùng.
When he fell, he was not very afraid, guessing the water down there was chest deep at most.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Tâm Trạng HồngSầm-Bích thấy Xương-Cấp té xỉu lật-đật ôm đỡ dậy rồi đem để nằm trên bộ ván.
Seeing Xuong Cap faint and fall, Sam Bich hurried to lift them up and laid them on the plank bed.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nam cực tinh huyAnh nầy ngồi trước mũi, hai chơn bị cột dính vào hông ghe cho khỏi té xuống nước.
This man sat at the bow, both legs tied fast to the side of the boat to keep him from falling into the water.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Ký ThácHải Đường nghe dứt lời, thì chàng té ngồi trên ghế nước mắt chảy ròng ròng.
When Hai Duong heard the last word, he dropped down onto a chair with tears streaming.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Đoá hoa tànHảo rũ ra mà cười, rồi té quỵ xuống mà cười, rồi lại nằm lăn lộn trên cát mà cười.
Hao went limp with laughter, then fell to the knees laughing, then rolled about on the sand laughing.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Gieo Gió Gặt BãoÔng suýt té ngồi lên gạch, phải vịn chặt bệ cửa sổ không thôi thì ngã.
He nearly dropped down onto the tiles and had to grip the window sill hard, or else he would have fallen.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Uống Lộn Thuốc TiênÁi Mỹ kêu lên như thế rồi té ngồi lên nền đất ôm mặt mà khóc rấm rứt.
Ai My cried out like that, then dropped down onto the dirt floor, face in hands, sobbing quietly.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Nhìn Xuân Người KhácThúy kêu lên rồi té ngồi trên chiếc ghế nhỏ đặt cạnh ghế của Toàn.
Thuy cried out, then dropped down onto the small chair set beside Toan's.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đừng Hỏi Tại SaoTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“Như buổi chiều té xe đạp, Hiếu nghe cả một giàn nhạc đại tấu trong lòng nàng.”“Ông đã ướt như chuột té mương và bắt đầu lập cập dưới gió từng cơn thổi đến.”“Hồi té, anh không sợ bao nhiêu, đoán nước dưới ấy giỏi lắm tới ngực là cùng.”“Sầm-Bích thấy Xương-Cấp té xỉu lật-đật ôm đỡ dậy rồi đem để nằm trên bộ ván.”“Anh nầy ngồi trước mũi, hai chơn bị cột dính vào hông ghe cho khỏi té xuống nước.”“Hải Đường nghe dứt lời, thì chàng té ngồi trên ghế nước mắt chảy ròng ròng.”“Hảo rũ ra mà cười, rồi té quỵ xuống mà cười, rồi lại nằm lăn lộn trên cát mà cười.”“Ông suýt té ngồi lên gạch, phải vịn chặt bệ cửa sổ không thôi thì ngã.”