Trở lại từ điển
Bản biên đang soạnChưa đối chiếu nguồn
Nghĩa vắn tắt

Tái mét, mặt mất hết sắc máu vì sợ, lo hay mệt.

Tiếng Anh: Deathly pale, the face drained of color from fear, worry or exhaustion.

Cách đọc, giọng Sài Gòn
tái lét(chữ để đối chiếu)
Máy đọc để tham khảo, không phải giọng người bản xứ thâu lại
Giảng đủ và ghi chú cách dùng

Tái mét, mặt mất hết sắc máu vì sợ, lo hay mệt.

Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:

1 nét nghĩa
1tái métđời sống[thân mật]
B2

🇻🇳 Kho văn Nam Bộ dùng nó gần như luôn cho gương mặt: mặt tái lét, mặt mày tái lét. Nó hay đi cùng những dấu hiệu khác của sợ hãi hay bàng hoàng, như mồ hôi dầm dề, tay chơn bủn rủn, chơn run lập cập, không nói được lời nào.

🇬🇧 Southern writing almost always uses it for the face: a pale face, a face gone ashen. It often comes with other signs of fear or shock, such as sweat pouring down, limbs going weak, legs trembling, and being unable to say a word.

Cụm thường gặp:
mặt tái létmặt mày tái léttái lét như
Mẫu ngữ pháp:

Thí dụ:

Con Hạnh bước tới, mặt tái lét, ú ớ đáp gì nho nhỏ trong miệng không ai nghe được cả.

Hanh stepped forward, her face ashen, mumbling some answer under her breath that no one could hear.

Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Mưa Thu Nhớ Tằm

Thu Thủy cũng như mẹ, lo sợ nên mặt mày tái lét, ngồi êm ru mà ngó mà không dám hó hé.

Thu Thuy, like her mother, was so frightened that her face went ashen, and she sat silently watching, not daring to utter a word.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Sống thác với tình

Ba Mậu dựa ngửa vào ghế mà thở dốc, mặt mầy tái lét, cặp mắt lim-dim.

Ba Mau leaned back in the chair gasping for breath, his face deathly pale, eyes half closed.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Lạc đường

Hải-Yến đứng xa-xa, mặt mày tái lét, cứ ngó nàng, chớ không kiếm được một lời mà đối đáp.

Hai Yen stood some way off, her face ashen, staring at her, unable to find a word in reply.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùa

Cô bước ra khỏi phòng môi cô thường đỏ au, mà bây giờ lại tái lét.

She came out of the room, her lips, usually bright red, now gone pale.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Thiệt giả, giả thiệt

Thượng Tứ đọc bài ấy rồi thì mặt mày tái lét, cặp mắt chóa lòa, mồ hôi dầm dề, tay chơn bủn rủn.

Having read that piece, Thuong Tu went deathly pale, his eyes dazzled, sweat pouring down, his limbs weak.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Con nhà giàu

Cô Lý kéo ghế mà ngồi, còn Phúc thì đứng chống nạnh ngó cô Hạnh trân trân, mắt đỏ au, mặt tái lét.

Miss Ly pulled up a chair and sat, while Phuc stood hands on hips staring at Miss Hanh, eyes red, face pale.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ái tình miếu

Thầy thông Phong đọc rồi mặt mày tái lét, hạn xuất dầm dề.

Having read it, the clerk Phong went deathly pale, sweat streaming down.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Thầy Thông ngôn

Người mặc âu-phục ríu-ríu leo xuống xe, mặt mày tái lét.

The man in the European suit meekly climbed out of the car, his face ashen.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Người thất chí

Cao-Phi thất kinh, mặt mày tái lét, chơn run lập-cập.

Cao Phi was terrified, his face ashen, his legs trembling.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nam cực tinh huy
Dẫn chứng văn học

Tiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm

“Con Hạnh bước tới, mặt tái lét, ú ớ đáp gì nho nhỏ trong miệng không ai nghe được cả.”
Bình Nguyên Lộc, Mưa Thu Nhớ Tằm, Tre phải tàn
“Thu Thủy cũng như mẹ, lo sợ nên mặt mày tái lét, ngồi êm ru mà ngó mà không dám hó hé.”
Hồ Biểu Chánh, Sống thác với tình, Chương 10
“Ba Mậu dựa ngửa vào ghế mà thở dốc, mặt mầy tái lét, cặp mắt lim-dim.”
Hồ Biểu Chánh, Lạc đường, Chương 9
“Hải-Yến đứng xa-xa, mặt mày tái lét, cứ ngó nàng, chớ không kiếm được một lời mà đối đáp.”
Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùa, Chương 0
“Cô bước ra khỏi phòng môi cô thường đỏ au, mà bây giờ lại tái lét.”
Hồ Biểu Chánh, Thiệt giả, giả thiệt, Chương 1
“Thượng Tứ đọc bài ấy rồi thì mặt mày tái lét, cặp mắt chóa lòa, mồ hôi dầm dề, tay chơn bủn rủn.”
Hồ Biểu Chánh, Con nhà giàu, Chương 9
“Cô Lý kéo ghế mà ngồi, còn Phúc thì đứng chống nạnh ngó cô Hạnh trân trân, mắt đỏ au, mặt tái lét.”
Hồ Biểu Chánh, Ái tình miếu, Chương sáu
“Thầy thông Phong đọc rồi mặt mày tái lét, hạn xuất dầm dề.”
Hồ Biểu Chánh, Thầy Thông ngôn, Chương 11