Trở lại từ điển

phước đức

danh từbậc B1
Bản biên đang soạnChưa đối chiếu nguồn
Nghĩa vắn tắt

Merit earned by right living, enjoyed by one's descendants.

Tiếng Anh: Là cái vốn lành mà một nhà tích được nhờ ăn ở phải, và con cháu hưởng lại, nên nó vừa là may vừa là công.

Cách đọc, giọng Sài Gòn
phước đức(chữ để đối chiếu)
Máy đọc để tham khảo, không phải giọng người bản xứ thâu lại
Giảng đủ và ghi chú cách dùng

Merit earned by right living, enjoyed by one's descendants.

Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:

1 nét nghĩa
1vốn lành một nhà tích được nhờ ăn ở phải, con cháu hưởng lạiđời sống[tiếng địa phương]
B1

🇻🇳 Cái vốn lành mà một nhà tích được nhờ ăn ở phải, và con cháu hưởng lại. Vì vậy nó vừa là may vừa là công: may cho người hưởng, công của người trước. Viết theo giọng Nam Bộ.

🇬🇧 The store of good a family lays up by living rightly, which its descendants draw on. So it is luck and desert at once: luck for the one who enjoys it, desert of those before. In Southern spelling.

Mẫu ngữ pháp:

Thí dụ:

Vợ chồng anh Cai-tuần ra công nuôi nó mấy năm nay, thiệt là phước đức lớn lắm.

The couple have taken pains to raise him these several years, which is truly great merit.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ đời

Thành công về tài chánh trên đường đời là dấu hiệu của tài năng, của phước đức.

Success in money on the road of life is a sign of ability and of merit.

Nguồn: Sơn Nam, Người Việt Có Dân Tộc Tính Không

May mà sống sót được như vầy cũng là có phước đức ông bà ông vải để lại rồi!

That we survive like this is thanks to the merit our forebears left us.

Nguồn: Lê Xuyên, Vợ Thầy Hương

Tìm được cậu bao xe lô chở về đây giùm cho tôi cậu được phước đức lớn lắm.

Find him a car to bring him back here for me and you will earn great merit.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Hạnh phúc lối nào

Nó có chồng như con là phước đức lớn lắm rồi, chớ còn chồng bực nào nữa ?

To have a husband such as you is already great merit, so what better husband is there?

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tơ hồng vương vấn

Ở đời quí là nhân nghĩa, quí là phước đức, chớ không phải giàu hay là sang mà quí đâu.

What is precious in life is right dealing and merit, not riches or rank.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cười gượng

Hằng ngày chàng cầu nguyện Phật, trời phù hộ, lo làm việc phước đức.

Daily he prayed for heaven's protection and busied himself with works of merit.

Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích Củ

Tôi nghĩ nhà anh Ba thật là nhà phước đức; mà tôi cũng khen cô Hai thật sáng suốt hơn mấy lão già nầy.

I think his is truly a house of merit, and I praise her as clearer sighted than these old men.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Bức thơ hối hận

Tai họa từ trên cao giáng xuống thì ta dùng cái may mắn, cái phước đức từ dưới đất nẩy lên mà sửa trị.

When calamity comes down from above we use the luck and the merit that spring up from the ground to mend it.

Nguồn: Sơn Nam, Bà Chúa Hòn

Đó là phước đức lớn của Trời ban cho nhà cháu.

That is the great merit heaven has granted our house.

Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vợ già chồng trẻ
Dẫn chứng văn học

Tiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm

Vợ chồng anh Cai-tuần ra công nuôi nó mấy năm nay, thiệt là phước đức lớn lắm.
Hồ Biểu Chánh, Nợ đời, Chương 1
Thành công về tài chánh trên đường đời là dấu hiệu của tài năng, của phước đức.
Sơn Nam, Người Việt Có Dân Tộc Tính Không, Chương 1
May mà sống sót được như vầy cũng là có phước đức ông bà ông vải để lại rồi!
Lê Xuyên, Vợ Thầy Hương, Phần Thứ VI
Tìm được cậu bao xe lô chở về đây giùm cho tôi cậu được phước đức lớn lắm.
Hồ Biểu Chánh, Hạnh phúc lối nào, Chương 2
Nó có chồng như con là phước đức lớn lắm rồi, chớ còn chồng bực nào nữa ?
Hồ Biểu Chánh, Tơ hồng vương vấn, Chương 21
Ở đời quí là nhân nghĩa, quí là phước đức, chớ không phải giàu hay là sang mà quí đâu.
Hồ Biểu Chánh, Cười gượng, Chương 1 - Tham phú phụ bần
Hằng ngày chàng cầu nguyện Phật, trời phù hộ, lo làm việc phước đức.
Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích Củ, Cái chuông, cái trống, cái mõ
Tôi nghĩ nhà anh Ba thật là nhà phước đức; mà tôi cũng khen cô Hai thật sáng suốt hơn mấy lão già nầy.
Hồ Biểu Chánh, Bức thơ hối hận, Chương 2