Nghĩa của “nghĩ thử coi” là gì?
Lời mời người nghe suy xét một chuyện cho kỹ, coi có nên, có được hay không.
Tiếng Anh: An invitation to the listener to think something over carefully and judge whether it is right or will do.
Các nét nghĩa và giải thích chi tiết của “nghĩ thử coi”:
1 nét nghĩa🇻🇳 Nghĩ là suy tính, thử là làm cho biết, coi là chữ Nam Bộ đặt sau động từ để mời người ta làm thử. Ba chữ đi chung thành lời nhờ người nghe xét giùm một chuyện, và thường có câu hỏi theo sau: nghĩ thử coi có được hay không, nghĩ thử coi có nên làm chăng, nghĩ thử coi phải hay là quấy. Kho văn Nam Bộ, nhứt là truyện Hồ Biểu Chánh, dùng nó nhiều trong lời thưa gởi giữa người nhà. Có khi nó mời người nghe hình dung cái khổ của mình, như nghĩ thử coi câu hỏi đó làm khổ tâm là dường nào.
🇬🇧 The first word is to think, the second to try, and the third a Southern word placed after a verb to invite someone to try it. Together they ask the listener to weigh a matter, usually followed by a question, think it over whether it will do, whether one should, whether it is right or wrong. The Southern corpus, especially the novels of Ho Bieu Chanh, uses it often in talk between family members. Sometimes it asks the listener to imagine one's pain, just think how much a question has tormented me.
Thí dụ:
Anh nghĩ thử coi có nên ra trình cho cậu hay và tạ ơn cậu rồi mình sẽ đi.
Think it over whether we ought to go and let him know and thank him, and then we will leave.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tại tôiNầy, cậu Tư, tôi tính như vầy, cậu nghĩ thử coi có được hay không.
Look here, Cau Tu, this is my plan; think it over whether it will do or not.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Con nhà giàuTôi tính nuôi nó làm con nuôi, mình nghĩ thử coi được hay không?
I plan to raise the child as our adopted one; think it over, will it do or not?
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cười gượngHôm nay tôi đến đây là có ý xin ông nghĩ thử coi, ông có thể dùng vào chỗ nào được hay không.
I have come here today meaning to ask you to think it over, whether you could find some place to make use of me.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Người thất chíEm nghĩ thử coi câu hỏi ấy làm khổ tâm cho qua là dường nào.
Just think how much that question has tormented me.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Hai khối tìnhXin quan lớn nghĩ thử coi lời tôi nói đó có lý hay không.
I beg you, sir, to consider whether what I said is reasonable or not.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Bỏ vợHai cô nghĩ thử coi tôi làm như vậy có được hay không?
You two think it over: is it all right for me to do that?
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ đờiBác nghĩ thử coi, cháu tính như vậy được hay không?
Think it over, uncle: is my plan all right or not?
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Bức thơ hối hậnCon nghĩ thử coi ba nói phải hay là quấy.
Think it over, child, whether what I said is right or wrong.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Khóc thầmAnh nghĩ thử coi có nên làm chăng?
Think it over: should we do it?
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tình mộngTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“Anh nghĩ thử coi có nên ra trình cho cậu hay và tạ ơn cậu rồi mình sẽ đi.”“Nầy, cậu Tư, tôi tính như vầy, cậu nghĩ thử coi có được hay không.”“Tôi tính nuôi nó làm con nuôi, mình nghĩ thử coi được hay không?”“Hôm nay tôi đến đây là có ý xin ông nghĩ thử coi, ông có thể dùng vào chỗ nào được hay không.”“Em nghĩ thử coi câu hỏi ấy làm khổ tâm cho qua là dường nào.”“Xin quan lớn nghĩ thử coi lời tôi nói đó có lý hay không.”“Hai cô nghĩ thử coi tôi làm như vậy có được hay không?”“Bác nghĩ thử coi, cháu tính như vậy được hay không?”Câu hỏi thường gặp về “nghĩ thử coi”
“nghĩ thử coi” nghĩa là gì?
Lời mời người nghe suy xét một chuyện cho kỹ, coi có nên, có được hay không.
“nghĩ thử coi” được dùng trong câu như thế nào?
Một câu trong Tại tôi của Hồ Biểu Chánh: “Anh nghĩ thử coi có nên ra trình cho cậu hay và tạ ơn cậu rồi mình sẽ đi.”
Từ “nghĩ thử coi” có nguồn gốc từ đâu?
“nghĩ thử coi” là từ thuần việt, được ghi nhận trong kho từ vựng tiếng Việt.
“nghĩ thử coi” thuộc từ loại gì?
“nghĩ thử coi” thuộc từ loại cụm động từ. Mục từ này phù hợp cho người học bậc B1.
Tiêu chuẩn thẩm định ngữ liệu tại VietLayers
Mức đối chiếu của mục từ được ghi ở đầu trang. Dẫn chứng có tên tác giả và tác phẩm được trình bày riêng với thí dụ biên soạn. Dẫn chứng về cách dùng không tự xác nhận nguồn gốc của từ. Phần chưa đủ căn cứ cần được đối chiếu thêm.