Phần lúa mà người mướn ruộng đong cho chủ ruộng mỗi mùa.
Tiếng Anh: The share of rice which a tenant measures out to the landholder each season.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Phần lúa mà người mướn ruộng đong cho chủ ruộng mỗi mùa.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Lúa là hột chưa giã, ruộng là đám đất cấy. Ghép lại thì nó không chỉ cây lúa mà chỉ món tiền thuê trả bằng lúa. Trong kho văn Nam Bộ nó đi với ba động từ của nghề: góp lúa ruộng, thâu góp lúa ruộng, đong lúa ruộng. Bên đong là tá điền, bên góp là chủ. Nó đo bằng giạ: đong lúa ruộng rồi còn dư được hai chục giạ, một năm góp lúa ruộng đến ba bốn chục ngàn giạ. Kho văn cũng ghi khi mùa thất thì không đong được: trời hạn lúa của tôi cấy bị nắng khô hết nên tới mùa không gặt mà đong lúa ruộng cho chủ được.
🇬🇧 The elements mean unhusked rice and a paddy field, and together they name not the plant but the rent paid in rice. In the Southern corpus it goes with three verbs of the calling, collecting it, gathering it in, and measuring it out. The tenant measures out, the holder collects. It is reckoned in the local bushel. The corpus records the failed season too, when a burnt crop left nothing to measure out.
Thí dụ:
Mà anh ta tính tới sự đong lúa ruộng thì nhớ tới con bà chủ điền là cậu Hai Nghĩa.
And when he came to reckon the measuring out of the rent rice, he thought of the landholding lady's son, cousin Hai Nghia.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Con nhà nghèoĐó là sáu năm lúa ruộng lấy lời nhập vốn chạy nhằm hai trăm tám chục giạ.
That is six years of rent rice with the interest turned back into capital, coming to two hundred and eighty bushels.
Nguồn: Sơn Nam, Biển Cỏ Miền TâyĐong lúa ruộng rồi còn dư được hai chục giạ, Hương thị Tào ví để dành mà nuôi sắp cháu.
The rent rice measured out and twenty bushels over, Huong thi Tao meant to keep it to feed the grandchildren.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cha con nghĩa nặngCậu lo tính vài bữa rồi cậu năn nỉ với mẹ xin số lúa ruộng hương hỏa đặng bán mà trả nợ.
He reckoned it over a few days and then pleaded with his mother for the rent rice of the ancestral land, to sell and pay his debt.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Con nhà giàuMột năm góp lúa ruộng đến ba bốn chục ngàn giạ, còn bạc mặt thì nó biết bao nhiêu mà kể.
A year's collecting of rent rice came to thirty or forty thousand bushels, and the ready money beyond counting.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nhơn tình ấm lạnhThầy Hội đồng buồn rầu hết muốn lo việc trong nhà nên giao cho rể coi thâu góp lúa ruộng.
The councillor was too downcast to see to the household and so gave his son in law the collecting of the rent rice.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Khóc thầmLàm thủ hộ thì có huê hồng, lại có tiền tổn phí cho mướn ruộng và thâu góp lúa ruộng nữa.
Being a guardian brought a commission, and an allowance besides for letting the land and gathering in the rent rice.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ đờiVào thời này không sống hẳn ở thôn quê, đừng hòng thâu lúa ruộng.
In those times, if you did not live wholly in the country, do not hope to gather in rent rice.
Nguồn: Ngọc Linh, Trên Sông Hoàng HônThuở xưa, có anh nông dân tính tình siêng năng chất phác, làm ruộng chỉ biết có lúa ruộng mà thôi.
Long ago there was a farmer of diligent and simple temper, who in his farming knew nothing but the rent rice.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủCòn về phần cha thì bà bớt lúa ruộng đỡ cho cha lung lắm.
And as for father, she abated much of his rent rice to relieve him greatly.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Hạnh phúc lối nàoTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Mà anh ta tính tới sự đong lúa ruộng thì nhớ tới con bà chủ điền là cậu Hai Nghĩa.”“Đó là sáu năm lúa ruộng lấy lời nhập vốn chạy nhằm hai trăm tám chục giạ.”“Đong lúa ruộng rồi còn dư được hai chục giạ, Hương thị Tào ví để dành mà nuôi sắp cháu.”“Cậu lo tính vài bữa rồi cậu năn nỉ với mẹ xin số lúa ruộng hương hỏa đặng bán mà trả nợ.”“Một năm góp lúa ruộng đến ba bốn chục ngàn giạ, còn bạc mặt thì nó biết bao nhiêu mà kể.”“Thầy Hội đồng buồn rầu hết muốn lo việc trong nhà nên giao cho rể coi thâu góp lúa ruộng.”“Làm thủ hộ thì có huê hồng, lại có tiền tổn phí cho mướn ruộng và thâu góp lúa ruộng nữa.”“Vào thời này không sống hẳn ở thôn quê, đừng hòng thâu lúa ruộng.”