Mắc cỡ, ngượng ngùng, xấu hổ với người khác vì chuyện của mình bị biết hay bị nhắc tới.
Tiếng Anh: Embarrassed, abashed or ashamed before others when one's affairs are known or mentioned.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Mắc cỡ, ngượng ngùng, xấu hổ với người khác vì chuyện của mình bị biết hay bị nhắc tới.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Kho văn Nam Bộ hay dùng nó cho cái thẹn của người bị nhắc chuyện riêng: nghe nói tới chuyện mình thì hổ ngươi, hổ ngươi nên day mặt chỗ khác, hổ ngươi nên cúi đầu. Nó hay đi với cúi đầu, day mặt, đỏ mặt và nín thinh. Kho văn cũng dùng nó để chê kẻ làm quấy mà trơ trẽn, như phản chị dâu mà không biết hổ ngươi.
🇬🇧 Southern writing often uses it for the shame of someone whose private affairs come up: feeling abashed on hearing one's story told, turning away out of embarrassment, lowering one's head. It pairs with bow one's head, turn away, blush and fall silent. The corpus also uses it to condemn the shameless, like betraying one's sister in law without any shame.
Thí dụ:
Cô Hai Khỏe nghẹn họng, còn Thôn Châu hổ ngươi, nên hai vợ chồng ngồi nín khe.
Co Hai Khoe was struck dumb and Thon Chau was abashed, so husband and wife sat in silence.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Con nhà giàuCô Hảo nghe nói tới chuyện của mình thì cô hổ ngươi, nên day mặt chỗ khác.
Hearing her own story mentioned, Co Hao felt embarrassed and turned her face away.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cười gượngSự im lặng của họ là sự im lặng hổ ngươi chớ không phải im lặng giận hờn.
Their silence was the silence of shame, not of anger.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đò DọcĐây là lần bạo lời cuối cùng của Trọng và lần mặc nhận, lần hổ ngươi cuối cùng của Hiếu.
This was Trong's last bold word and Hieu's last tacit consent, her last moment of shyness.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Hoa Hậu Bồ ĐàoLiên vừa sung sướng, vừa hổ ngươi, nên mặt nàng càng hồng hơn.
Lien was both happy and embarrassed, so her face grew rosier still.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Lữ Đoàn Mông ĐenTrong bữa điểm tâm, họ nhìn mặt nhau mà không ai hổ ngươi cả.
At breakfast they looked at each other and no one was embarrassed at all.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Món Nợ Thiêng LiêngYến-Tuyết đứng lau mặt dòm thấy hình mình trong tấm kính thì hổ ngươi nên cúi đầu xuống, không dám ngó.
Yen Tuyet, wiping her face, saw herself in the mirror and felt ashamed, so she bowed her head, not daring to look.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tình mộngMá phải làm cho cậu định trí yên lòng đặng cậu bớt hổ ngươi, rồi cậu mới bình tĩnh mà sống theo đời được chớ.
I must set his mind at ease so he feels less ashamed, and then he can calmly get on with his life.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ tìnhPhan Đức Lợi đã phản với chị dâu mà không biết hổ ngươi nên mỗi năm qua lối tháng hai tháng ba liệu góp lúa vừa xong thì lót tót về cà rà xin bạc.
Phan Duc Loi betrayed his sister in law without any shame, so every year around the second or third month, as soon as the rice rent was collected, he would sidle back to ask for money.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cay đắng mùi đờiThể-Phụng tính tới bàn lui, không biết liệu lẽ nào, mở miệng thì hổ ngươi, lặng thinh thì xót dạ, vắng mặt thì thương nhớ, giáp mặt thì ngậm-ngùi.
The Phung weighed it back and forth, not knowing what to do: speaking up would be shameful, keeping silent was painful, apart she pined, together she ached.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùaTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Cô Hai Khỏe nghẹn họng, còn Thôn Châu hổ ngươi, nên hai vợ chồng ngồi nín khe.”“Cô Hảo nghe nói tới chuyện của mình thì cô hổ ngươi, nên day mặt chỗ khác.”“Sự im lặng của họ là sự im lặng hổ ngươi chớ không phải im lặng giận hờn.”“Đây là lần bạo lời cuối cùng của Trọng và lần mặc nhận, lần hổ ngươi cuối cùng của Hiếu.”“Liên vừa sung sướng, vừa hổ ngươi, nên mặt nàng càng hồng hơn.”“Trong bữa điểm tâm, họ nhìn mặt nhau mà không ai hổ ngươi cả.”“Yến-Tuyết đứng lau mặt dòm thấy hình mình trong tấm kính thì hổ ngươi nên cúi đầu xuống, không dám ngó.”“Má phải làm cho cậu định trí yên lòng đặng cậu bớt hổ ngươi, rồi cậu mới bình tĩnh mà sống theo đời được chớ.”