Mặt đổi màu vì kinh hoặc vì giận, cái đổi mà chính người đó không giấu kịp.
Tiếng Anh: To change colour from shock or anger, a change the person cannot hide in time.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Mặt đổi màu vì kinh hoặc vì giận, cái đổi mà chính người đó không giấu kịp.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Mặt đổi màu. Đây là chữ của khoảnh khắc: một người vừa nghe hoặc vừa thấy một điều, và cái mặt phản lại họ trước khi họ kịp nói. Trong kho văn Nam Bộ nó gần như luôn đứng ngay sau một động từ tri giác: nghe nói như vậy thì biến sắc, vừa mới coi thơ lại biến sắc, thấy mặt cậu Lăng hớn hở thì hai người biến sắc. Nó hay đi với chữ giựt mình.
🇬🇧 To change colour. This is the word of an instant: a person has just heard or just seen something, and the face betrays them before they can speak. In the Southern corpus it comes almost always straight after a verb of perceiving, of hearing it said, of reading a letter, of catching sight of a cheerful face. It often pairs with a word for starting in surprise.
Thí dụ:
Ông biến sắc hồi hộp, dắt con đi theo coi cô đi đâu và lập thế hỏi cô tên chi.
He changed colour in his agitation and took his child along to see where she went and to contrive to ask her name.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tơ hồng vương vấnChí Đại vừa nghe mấy lời thì biến sắc, nghẹn cổ, ngồi ngó Bạch Tuyết trân trân.
Hearing those few words, Chi Dai changed colour, his throat closed, and he sat staring at Bach Tuyet.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ai làm đượcChung biến sắc, run tay, cầm chặt tấm giấy số mà để trên tờ nhựt-trình đặng dò.
Chung changed colour, his hand shaking, and held the ticket tight on the newspaper to check it.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Thầy Chung trúng sốCô Phùng Xuân biến sắc, cô cứ đứng núp theo cô Đốc Học, không dám ngó ông Phán.
Miss Phung Xuan changed colour and kept behind the headmistress, not daring to look at the clerk.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Thiệt giả, giả thiệtÔng Phán Nhãn đứng nhìn bà trân-trân, rồi biến sắc mặt, không chào hỏi được nữa.
Mister Phan Nhan stood staring at her, then changed colour and could greet her no further.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Dây oanCẩm Vân biến sắc, trong lòng phát nghi, bèn hối thằng Điệu lấy dao cạy khoá cửa.
Cam Van changed colour and grew suspicious in her heart, and hurried the boy to fetch a knife and prise the lock.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Kẻ làm người chịuPhi Phụng sợ bà Phán nói thiệt tên họ của cha mẹ mình nên biến sắc, đứng dáo dác.
Phi Phung feared that Madam Phan would tell her parents' true names, so she changed colour and stood looking about.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nhơn tình ấm lạnhVừa mới coi thơ con lại biến sắc, coi rồi đút thơ vào bao tay run và ứa nước mắt.
No sooner had she read her child's letter than she changed colour, and when she had read it she put it back in the envelope with shaking hands and brimming eyes.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tại tôiThu Cúc nghe nói như vậy thì nó đứng ngó sửng, không đi được nữa, mặt nó biến sắc.
Hearing that, Thu Cuc stood staring and could go no further, and her face changed colour.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Chút phận linh đinhThu-Vân giựt mình, ngó lại thấy ông đứng dựa gốc cây da thì nàng biến sắc.
Thu Van started, and looking round and seeing him against the banyan trunk she changed colour.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùaTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Ông biến sắc hồi hộp, dắt con đi theo coi cô đi đâu và lập thế hỏi cô tên chi.”“Chí Đại vừa nghe mấy lời thì biến sắc, nghẹn cổ, ngồi ngó Bạch Tuyết trân trân.”“Chung biến sắc, run tay, cầm chặt tấm giấy số mà để trên tờ nhựt-trình đặng dò.”“Cô Phùng Xuân biến sắc, cô cứ đứng núp theo cô Đốc Học, không dám ngó ông Phán.”“Ông Phán Nhãn đứng nhìn bà trân-trân, rồi biến sắc mặt, không chào hỏi được nữa.”“Cẩm Vân biến sắc, trong lòng phát nghi, bèn hối thằng Điệu lấy dao cạy khoá cửa.”“Phi Phụng sợ bà Phán nói thiệt tên họ của cha mẹ mình nên biến sắc, đứng dáo dác.”“Vừa mới coi thơ con lại biến sắc, coi rồi đút thơ vào bao tay run và ứa nước mắt.”