Vạt bùn lộ ra ngoài khi nước ròng.
Tiếng Anh: A mudflat laid bare when the tide goes out.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Vạt bùn lộ ra ngoài khi nước ròng.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Trong kho văn nó lộ ra lúc nước ròng: phơi bãi bùn khi nước ròng; các đảo dính liền nhau bằng bãi bùn hẹp khi nước ròng; khỏi phải thấy bãi bùn khi nước ròng; bờ lại đứng sững nên không thấy bãi bùn dơ lòi ra. Chiếc ghe rướn lên nó: tam bản xắn mũi vào bãi bùn, chiếc xuồng nằm rướn lên bãi bùn, cắm mấy hàng nọc dài ra biển để hướng dẫn cho tàu khỏi rướn lên bãi bùn, những chiếc ghe biển nằm nghiêng trên bãi bùn. Cái nhà cũng cất trên nó: nhà anh Mộc cất trên bãi bùn, kiểu nhà sàn nhưng có lầu bằng ván thông. Và kho văn lấy nó làm tên một chỗ: ở gần mũi Cà Mau có một bãi bùn gọi là bãi ông Nam.
🇬🇧 In the corpus it shows itself when the tide goes out. Boats run up onto it. Houses are built on it. And the corpus uses it as the name of a place.
Thí dụ:
Từ nhà ông ta ra vàm biển, con rạch chảy cong quẹo, phơi bãi bùn khi nước ròng.
From his house out to the sea mouth the creek runs crooked, laying bare the mudflat when the tide goes out.
Nguồn: Sơn Nam, Biển Cỏ Miền TâyBiển đen ngòm, bãi bùn, sóng nước và Hòn Tre lẫn lộn dưới vòm trời thiếu trăng.
The sea pitch black, the mudflat, the waves and Hon Tre all mixed together under a sky with no moon.
Nguồn: Sơn Nam, Hình Bóng CũTrong phút chốc, tam bản xắn mũi vào bãi bùn, cách xa Tư Bá chừng vài chục bước.
In a moment the sampan drove its nose into the mudflat, some tens of steps from Tu Ba.
Nguồn: Sơn Nam, Vạch Một Chân TrờiThật ra cù-lao gồm ba đảo, các đảo dính liền nhau bằng bãi bùn hẹp khi nước ròng.
In truth the islet is three islands, joined to one another by a narrow mudflat when the tide goes out.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc ThươngVì chiếc xuồng nằm rướn lên bãi bùn nên anh chèo lái vội lấy mái chèo vít nại ra.
Because the sampan lay run up on the mudflat, the man at the stern quickly took his oar and pushed off.
Nguồn: Lê Xuyên, Vợ Thầy HươngNhà anh Mộc cất trên bãi bùn, kiểu nhà sàn nhưng có lầu bằng ván thông.
Moc's house was built on the mudflat, in the stilt house style but with an upper floor of pine boards.
Nguồn: Sơn Nam, Người Bạn Triệu PhúVàm Rạch Giá cạn, vì vậy đã cho cắm mấy hàng nọc dài ra biển để hướng dẫn cho tàu khỏi rướn lên bãi bùn.
The mouth of Rach Gia is shallow, and so they had rows of stakes driven out to sea to guide the boats clear of running up on the mudflat.
Nguồn: Sơn Nam, Lịch Sử Khẩn Hoang Miền NamỞ gần mũi Cà Mau có một bãi bùn gọi là bãi ông Nam.
Near the cape of Ca Mau there is a mudflat called Mr Nam's flat.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủNơi bãi bùn, vài chiếc thuyền câu sắp rời bến.
On the mudflat, a few fishing boats were about to leave the landing.
Nguồn: Sơn Nam, Bà Chúa HònChiều chiều, khi ra bờ biển để câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Tư Thông như nhớ một cái vỏ ốc xà cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn.
Of an afternoon, going out to the shore to catch crabs and push the net, people remembered Mr Tu Thong as one remembers a five coloured mother of pearl shell washed up on the mudflat.
Nguồn: Sơn Nam, Hương Rừng Cà MauTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Từ nhà ông ta ra vàm biển, con rạch chảy cong quẹo, phơi bãi bùn khi nước ròng.”“Biển đen ngòm, bãi bùn, sóng nước và Hòn Tre lẫn lộn dưới vòm trời thiếu trăng.”“Trong phút chốc, tam bản xắn mũi vào bãi bùn, cách xa Tư Bá chừng vài chục bước.”“Thật ra cù-lao gồm ba đảo, các đảo dính liền nhau bằng bãi bùn hẹp khi nước ròng.”“Vì chiếc xuồng nằm rướn lên bãi bùn nên anh chèo lái vội lấy mái chèo vít nại ra.”“Nhà anh Mộc cất trên bãi bùn, kiểu nhà sàn nhưng có lầu bằng ván thông.”“Vàm Rạch Giá cạn, vì vậy đã cho cắm mấy hàng nọc dài ra biển để hướng dẫn cho tàu khỏi rướn lên bãi bùn.”“Ở gần mũi Cà Mau có một bãi bùn gọi là bãi ông Nam.”