Âm: vô
Bính âm (Pinyin): wú
Chớ có, đừng làm; người mẹ hiền từ.
Các chữ đơn trực thuộc bộ 毋 (1 chữ)
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Bộ thứ 80 trong 214 bộ thủ Khang Hy (4 nét): Chớ có, đừng làm; người mẹ hiền từ.. Các biến thể thường gặp: 母.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Bộ vô (毋): Chớ có, đừng làm; người mẹ hiền từ.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 毋 (40)
Đi từ ngoài vô trong một chỗ, một nhà, một vùng; tiếng Nam Bộ, mà sách phổ thông viết là vào.
Không để ý, không cẩn thận nên lỡ làm hay lỡ nói điều không nên.
Chỗ trống không, không có gì hết; cũng nói điều không có thiệt, không bền, rồi cũng mất.
Ăn nói hay cư xử hỗn, không biết phép tắc, không kính trọng người mình đang thưa chuyện.
Không hợp lẽ phải, nghe không xuôi, không có cớ gì chánh đáng.
Là đi vô rồi đi ra nhiều lần, tức là lui tới một chỗ thường xuyên, và người Nam Bộ đặt tiếng vô trước chớ không đặt tiếng ra trước.
Nhiều lắm, nhiều tới mức đếm không xuể.
Yên ổn, không gặp chuyện gì rủi, không có gì xảy ra.
Không lo nghĩ, không bận lòng chuyện gì, cứ vui sống tự nhiên.
Lạt lẽo, không có gì vui thú; nói về cuộc sống, ngày giờ trôi qua mà không thấy hay ho gì.
Nhìn vô phía trong một căn nhà, căn phòng, chiếc xe hay một khoảng có rào, có cửa (đứng ngoài dòm vô nhà); nói bóng, người ngoài dòm vô là đứng ngoài một gia đình, một chuyện mà nhìn, xét đoán.
Không thuộc về người nào, không ai đứng ra nhận là của mình; bị bỏ đó không ai coi sóc.
Không biết đâu là cùng, không có chừng mực nào ngăn lại; đứng sau tiếng chỉ nỗi lòng để nói là hết sức.
Không được việc gì, có làm cũng uổng công, không đem lại lợi lộc gì.
Không có chỗ cuối, không bao giờ hết; dài, rộng hay nhiều tới mức không thấy đâu là bờ.
Không làm điều gì sai quấy, không đáng bị trách hay bị phạt.
Không biết gì, không có cảm giác; nói về đồ vật, hay người bị coi như đồ vật.
Rộng lớn tới mức không thấy đâu là bờ, không biết đâu là hết; thường nói về tình cảm.
Hết sức, tới mức không còn hơn được nữa; dùng để nhấn mạnh một tình cảm hay một tính chất.
Không có tên tuổi, không ai biết tới; cũng nói về người hay vật mà người ta không biết tên là gì.
Không ai hơn nổi, không ai thắng được; cũng là ngôi đứng đầu trong một môn thi đấu.
Không xài được vô việc gì, không giúp được gì; nói về người thì là không làm nên chuyện gì.
Không ăn thua, làm rồi mà không đem lại kết quả gì.
Mắt không thấy được, không có dáng vóc gì để nhìn hay rờ tới.
Cách nói Nam Bộ: đi, chui vô trong mùng để nằm, để ngủ (vô mùng nằm, rút vô mùng); cũng nói đem, bồng người khác, nhứt là con nít, vô mùng cho ngủ (đem con vô mùng).
Tới mức không có giới hạn, không đo được; đặt sau một tiếng chỉ cảm xúc hay tính chất để nói nó lớn vô cùng.
Là không có cái thứ hai để sánh, nghĩa từng chữ là không đôi, nên nó luôn đứng sau cái mà nó tôn lên.
Không cố ý, không tính trước mà lỡ làm hay lỡ xảy ra.
Rẽ, quẹo từ ngoài đường vô một chỗ, thường là xe chạy quẹo vô sân, vô cửa ngõ một cái nhà.
Không dễ thương, không dễ coi; nói hay làm lạt lẽo, không đúng lúc đúng chỗ, làm người ta khó chịu hay mắc cười.
Không có ý gì hết, không nói lên được điều gì; cũng nói về việc không còn đáng kể gì với mình.
Là không có phần may, gặp chuyện khổ mà không biết vì đâu, nên người ta đổ cho cái phần của mình mỏng.
Là đi vô chỗ ở phía trong mà cả hai đều biết là chỗ nào, gộp trong đó lại thành một tiếng.
Không dựa trên một lý do hay bằng cớ nào rõ ràng; không biết từ đâu mà ra.
Hết cách, không còn đường nào làm cho được.
Đi thẳng một mạch vô bên trong, không dừng lại, không ngó ngàng chung quanh.
Không đem lại kết quả gì, làm mà vẫn không được việc như mong muốn.
Chui vô trong mùng mà nằm, tức là lên giường đi nghỉ, đi ngủ; lối nói quen của người Nam.
Yên lành, không gặp chuyện rủi, chuyện xấu nào hết.
Bước mau và thẳng một mạch vô nhà, vô sân hay vô một chỗ nào đó, không ngập ngừng.