Có sẵn một thói, một nết đã thành quen từ lâu; cũng nói việc đã quen với tánh ý của ai.
Tiếng Anh: To have a long ingrained habit or trait; also to be used to someone's ways.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Có sẵn một thói, một nết đã thành quen từ lâu; cũng nói việc đã quen với tánh ý của ai.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Kho văn rất hay đặt sau nó một nết tốt hay xấu: quen tánh trầm tịnh, quen tánh hào phóng, quen tánh cần kiệm, quen tánh ôn hòa thận trọng, quen tánh ham vui, quen tánh tiếc cơm tiếc gạo. Nó thường giải thích vì sao người ta làm một việc: quen tánh nên thích nằm nhà, quen tánh cũ nên chơi bời chút đỉnh. Tánh là cách viết và cách nói của người miền Nam. Kho văn cũng dùng quen tánh ý để nói đã hiểu nết ai.
🇬🇧 The corpus very often follows it with a good or bad trait: being by habit quiet, generous, thrifty, mild and cautious, fun loving, loath to waste rice. It usually explains why someone does something: from habit liking to stay home, falling back into old ways and carousing a little. The spelling of the second syllable is the southern form. The corpus also uses a longer form to mean having come to know someone's ways.
Thí dụ:
Ông Nhiêu quen tánh trầm tịnh nên cứ cặm cụi làm việc, không thèm nói chi hết.
Mr Nhieu, quiet by habit, just kept working away without a word.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Đại nghĩa diệt thânCô Mỹ chịu, còn Ba Mùi nói ít đi đâu rồi quen tánh nên thích nằm nhà cho khoẻ.
Miss My agreed, while Ba Mui seldom went anywhere and was used to lying at home at ease.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Mẹ ghẻ con ghẻQuen tánh như khi còn ở Thủy Tinh cung, Công chúa lại ngứa tài, cất cao tiếng hát.
Out of old habit, as when she lived in the Crystal Palace, the princess itched to show her talent and raised her voice in song.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Nhân Ngư Công ChúaLên Sài Gòn mấy năm nay, thầy quen tánh cũ, nên cũng chơi bời chút đỉnh.
Since coming up to Saigon these past years, he fell back into his old ways and caroused a little.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Lời thề trước miễuMà đổ đi thì đó là điều chị làm không được, chị quen tánh tiếc cơm tiếc gạo từ thuở nhỏ rồi.
But throwing it out is something I cannot do; I have been loath to waste rice since I was small.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Tâm Trạng HồngEm quen tánh ham vui mà nằm nhà mãi em buồn; em đang cô đơn.
I am used to having fun, and staying home all the time makes me sad; I am lonely.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đừng Hỏi Tại SaoThanh-Nhân có sẵn cơm tiền nên quen tánh hào phóng.
Thanh Nhan had plenty of money and was generous by habit.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Đỗ Nương Nương báo oánChú Hai Cường quen tánh cần kiệm, nên sáng bữa sau ăn cơm rồi chú vác búa vô rừng đốn cây đặng cất nhà thêm.
Uncle Hai Cuong was thrifty by habit, so the next morning after eating he shouldered his axe and went into the forest to cut wood to add to the house.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Sống thác với tìnhVĩnh Xuân quen tánh ôn hòa thận trọng, nhưng cũng không khỏi trông cho mau tới chúa nhựt đặng bận sắc phục mới mà đi chơi.
Vinh Xuan was mild and cautious by nature, yet he could not help longing for Sunday to come so he could wear his new clothes and go out.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tơ hồng vương vấnCô Tư quen tánh vô ngại, tới nhà lạ mà cô không ké né chi hết, cô mượn một cái dao rồi xẻ trái đu đủ mời người nầy người kia ăn, còn mời luôn chủ nhà nữa.
Miss Tu was used to being uninhibited; in a strange house she was not shy at all, borrowed a knife, cut a papaya and offered it to everyone, even the host.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Con nhà giàuTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Ông Nhiêu quen tánh trầm tịnh nên cứ cặm cụi làm việc, không thèm nói chi hết.”“Cô Mỹ chịu, còn Ba Mùi nói ít đi đâu rồi quen tánh nên thích nằm nhà cho khoẻ.”“Quen tánh như khi còn ở Thủy Tinh cung, Công chúa lại ngứa tài, cất cao tiếng hát.”“Lên Sài Gòn mấy năm nay, thầy quen tánh cũ, nên cũng chơi bời chút đỉnh.”“Mà đổ đi thì đó là điều chị làm không được, chị quen tánh tiếc cơm tiếc gạo từ thuở nhỏ rồi.”“Em quen tánh ham vui mà nằm nhà mãi em buồn; em đang cô đơn.”“Thanh-Nhân có sẵn cơm tiền nên quen tánh hào phóng.”“Chú Hai Cường quen tánh cần kiệm, nên sáng bữa sau ăn cơm rồi chú vác búa vô rừng đốn cây đặng cất nhà thêm.”