Cái vị đắng với vị cay; nghĩa bóng là khổ sở, chua xót mà người ta phải nếm trong đời.
Tiếng Anh: The taste of bitter and hot; figuratively, the hardship and sorrow one must taste in life.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Cái vị đắng với vị cay; nghĩa bóng là khổ sở, chua xót mà người ta phải nếm trong đời.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Kho văn gần như chỉ dùng nó theo nghĩa bóng, và hay nói người ta nếm nó, chịu nó, chia sớt nó: nếm mùi đời đắng cay, vì tình ai nên thân tôi phải chịu đắng cay, Thiên Hương quyết chia sớt đắng cay với bạn, đắng cay phải chịu mặn nồng phải theo. Nó là cái mùi của thế gian: mùi đời mặn lạt, thế tục đắng cay. Nó ở trong cổ họng: nỗi đắng cay cứ chực chờ thoát ra khỏi cổ họng Uyên. Nó cũng là một thứ lời nói: những lời tôi nói đây là lời tâm huyết chớ không phải lời đắng cay như trước, cô Huyền nghe cha nói câu đắng cay như vậy. Người chờ đợi lâu cũng đắng cay: phải chờ phải đợi phải đắng cay đến tháng năm nào nữa. Và nó còn giữ nghĩa đen, cho một ly si rô không còn ngọt.
🇬🇧 The corpus uses the word almost only figuratively, and speaks of tasting it, bearing it and sharing it. It is the taste of the world, it sits in the throat, it is a kind of speech, long waiting is bitter too, and it keeps its literal sense for a syrup gone sour.
Thí dụ:
Nhưng Thiên Hương quyết chia sớt đắng cay với bạn, nên cô không chịu ngồi không.
But Thien Huong was resolved to share her friend's bitterness and hardship, so she would not sit idle.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Sống thác với tìnhSi rô ngày nay đã không ngọt mà còn đắng cay, nhưng sở thích của nó đã thay đổi rồi.
The syrup today was not sweet but bitter, yet her tastes had changed.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Trâm Nhớ Ngàn ThươngVà Uyên, nỗi đắng cay cứ chực chờ thoát ra khỏi cổ họng Uyên, cắn nát ý nghĩ của Uyên.
And Uyen: the bitterness kept waiting to escape her throat, gnawing her thoughts to shreds.
Nguồn: Dung Sàigòn, Không Còn Là Ngày XưaCòn nếu Yến-Tuyết mà không lỡ nếm mùi đời đắng cay, thì cũng không chắc vợ nầy chồng đó.
And had Yen Tuyet not tasted the bitterness of life, it would not be certain that she would marry this man.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tình mộngCòn phải chờ, phải đợi, phải đắng cay đến tháng năm nào nữa hở trời.
How many more months and years must I wait and wait and suffer bitterly, oh heaven?
Nguồn: Dung Sàigòn, Một Thủa Hẹn HòChị Lý ôi, những lời tôi nói đây là lời tâm huyết, chớ không phải lời đắng cay như trước đâu.
Oh, sister Ly, what I say now comes from the heart, and is not bitter words as before.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Bỏ chồngMùi đời mặn lạt, thế tục đắng cay, nghĩ rất buồn thay!
The world's taste is salt and bland, the ways of men are bitter; how very sad to think of it!
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Chúa tàu Kim QuiVì tình ai, nên thân tôi phải chịu đắng cay.
For someone's love my body must bear bitterness.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Tỳ Vết Tâm LinhĐắng cay phải chịu, mặn nồng phải theo.
Bitterness must be borne, and warmth must be followed.
Nguồn: Sơn Nam, Hương Rừng Cà MauCô Huyền nghe cha nói câu đắng cay như vậy, biết ý cha muốn ám chỉ duyên nợ cũ của cô, bởi vậy cô hết vui mà tỏ ý hổ thẹn.
Hearing her father speak so bitterly, Miss Huyen knew he was alluding to her old romance, and so her gaiety went and she showed shame.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Bức thơ hối hậnTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Nhưng Thiên Hương quyết chia sớt đắng cay với bạn, nên cô không chịu ngồi không.”“Si rô ngày nay đã không ngọt mà còn đắng cay, nhưng sở thích của nó đã thay đổi rồi.”“Và Uyên, nỗi đắng cay cứ chực chờ thoát ra khỏi cổ họng Uyên, cắn nát ý nghĩ của Uyên.”“Còn nếu Yến-Tuyết mà không lỡ nếm mùi đời đắng cay, thì cũng không chắc vợ nầy chồng đó.”“Còn phải chờ, phải đợi, phải đắng cay đến tháng năm nào nữa hở trời.”“Chị Lý ôi, những lời tôi nói đây là lời tâm huyết, chớ không phải lời đắng cay như trước đâu.”“Mùi đời mặn lạt, thế tục đắng cay, nghĩ rất buồn thay!”“Vì tình ai, nên thân tôi phải chịu đắng cay.”