Cái lằn xa nhứt mắt thấy được, chỗ trời như chạm xuống đất hoặc xuống biển.
Tiếng Anh: The farthest line the eye can reach, where the sky seems to touch the land or the sea.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Cái lằn xa nhứt mắt thấy được, chỗ trời như chạm xuống đất hoặc xuống biển.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Chân là cái đáy, trời là bầu trời, nên chân trời là chỗ trời chạm xuống đất. Trong kho văn Nam Bộ nó có hai việc. Một là cái lằn xa nhứt, và mắt người ta bị nó chận lại: tầm mắt Liên bị chân trời ngăn lại, không nhìn thấy chân trời. Hai là cái đích mà người ta hướng tới hoặc mở ra: một chân trời mới lạ mở ra, không biết phải dừng chân ở chân trời góc bể nào. Nó cũng nhận màu: chân trời ửng đỏ, ửng hồng, một màu tím sẫm.
🇬🇧 The elements mean the foot of the sky, so this is where the sky comes down to the ground. In the Southern corpus it does two things. First it is the farthest line, and a person's sight is stopped by it. Second it is a mark one turns towards or that opens up, a strange new one appearing, or a far one at which a wanderer does not know where to stop. It takes colours as well, reddening, turning pink, going deep violet.
Thí dụ:
Mãi đến lúc hoàng hôn ửng đỏ chân trời tây, thằng Dê mới chịu cất bước trở về.
Only when the dusk reddened the western horizon did De agree to set out for home.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Ông Nghè DêĐèn nhà ai le lói đằng xa và xa nữa rừng mờ đen trên chân trời trong hơn một tí.
Somebody's house lamp glimmered far off, and farther still the forest showed dark on a slightly clearer horizon.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đò DọcTừ chân trời xa, những vần mây đen lũ lượt kéo về đọng trên lưng chừng núi.
From the far horizon, black clouds came trooping up to settle halfway down the mountain.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Vó Ngựa Cầu ThuLũ quỷ ma thất kinh bỏ chạy, áo Phật rộng lớn mênh mông đến tận chân trời.
The demons fled in terror, for the Buddha's robe was vast and spread to the very horizon.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủHọ đi như đàn chim di thê mà không biết phải dừng chân lại ở chân trời góc bể nào.
They go like migrating birds without knowing at what horizon or corner of the sea they must stop.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Chưa Tròn Tuổi MộngNhưng giờ đây tầm mắt Liên bị chân trời ngăn lại, chỉ phóng xa ra có chừng mực thôi.
But now Lien's sight was stopped by the horizon and could only reach so far.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Gieo Gió Gặt BãoNó là những nét của cảnh trí, những vật ở chân trời cũ, thiếu đi, nghe buồn làm sao.
It is the lines of a scene, the things on the old horizon, missing now, and how sad it sounds.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Ký ThácMặt trời lẩn vào trong mây ở cuối chân trời, bên kia đường quốc lộ số 1.
The sun hid in the clouds at the end of the horizon, on the far side of national road number one.
Nguồn: Kim Nhật, Bóng Tối Đi Qua IIINó hoang vắng lạnh lùng với màu xanh mỏi mắt, không nhìn thấy chân trời.
It is wild and cold with a green that wearies the eye, and no horizon to be seen.
Nguồn: Kim Nhật, Về RNhưng khi đọc chữ chạy rót, họ bỗng thấy như trước mặt họ một chân trời mới lạ mở ra.
But on reading the streaming letters, they suddenly saw a strange new horizon open before them.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố Của Gã Bình Nguyên LộcTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Mãi đến lúc hoàng hôn ửng đỏ chân trời tây, thằng Dê mới chịu cất bước trở về.”“Đèn nhà ai le lói đằng xa và xa nữa rừng mờ đen trên chân trời trong hơn một tí.”“Từ chân trời xa, những vần mây đen lũ lượt kéo về đọng trên lưng chừng núi.”“Lũ quỷ ma thất kinh bỏ chạy, áo Phật rộng lớn mênh mông đến tận chân trời.”“Họ đi như đàn chim di thê mà không biết phải dừng chân lại ở chân trời góc bể nào.”“Nhưng giờ đây tầm mắt Liên bị chân trời ngăn lại, chỉ phóng xa ra có chừng mực thôi.”“Nó là những nét của cảnh trí, những vật ở chân trời cũ, thiếu đi, nghe buồn làm sao.”“Mặt trời lẩn vào trong mây ở cuối chân trời, bên kia đường quốc lộ số 1.”