Âm: trùng
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 虫 bên trái, 㚅 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ trùng 虫, nghĩa là sâu bọ.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 虫 bên trái, 㚅 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ trùng 虫, nghĩa là sâu bọ.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 𧍰 (3)
Linh vật trong truyền thuyết, mình dài có vảy, có chân có vuốt, bay lượn, làm mưa, là hình trang trí quen thuộc (chạm rồng, đèn rồng); ngày xưa rồng là biểu trưng của vua nên vật thuộc vua gọi bằng rồng (bệ rồng, sân rồng, thuyền rồng); trong xương rồng là tên một loài cây nhiều gai.
`Rồng rắn` là tổ hợp đã từ vựng hóa theo hai lớp liên quan hình dáng nối dài: (1) trò chơi trẻ em, thường gọi đầy đủ `rồng rắn lên mây`, trong đó người chơi nối nhau thành hàng, đọc/hát lời đối đáp rồi có màn đuổi bắt theo luật của nhóm (*dragon-snake chain game*). Lời đồng dao, tên vai `thầy thuốc/ông chủ`, cách nắm nhau, số người và điều kiện kết thúc có nhiều dị bản; VietLayers không dựng một bản duy nhứt là “chuẩn toàn quốc”. Tên trò chơi không chứng minh nguồn gốc nghi lễ hay công dụng giáo dục nếu không có nghiên cứu riêng; tổ chức chơi phải xét không gian, độ tuổi và khả năng vận động thực tế; (2) nghĩa chuyển trong `rồng rắn kéo nhau đi`, chỉ một đoàn người/vật nối tiếp thành hàng dài, uốn hoặc kéo qua nhiều chỗ (*in a long winding line; in single file*). Cách nói có thể vui, tả cảnh hoặc hơi chê sự kéo nhau đông; không tự suy hỗn loạn, cùng mục đích, tự nguyện hay vi phạm. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `nối đuôi nhau`, `kéo nhau đi một hàng`, `đi dài sọc` gần từng nét, nhưng không thay hoàn toàn tên trò chơi. Không phân tích `rồng rắn` như một loài lai giữa rồng và rắn. Tab Nôm chỉ ghi `𧍰` và `𧋻` ở cấp thành tố có chứng tích.
`Rồng rồng` có hai lớp Nam Bộ/vùng cần giữ nhưng phải gắn nhãn: (1) trong `cá rồng rồng`, tên dân gian cho đàn cá lóc/cá tràu/cá chuối còn rất nhỏ mới nở, thường bơi thành đàn và có cá ba má theo bảo vệ (*newly hatched snakehead fry*). Nguồn cũ nói chính là cá tràu con; lời vùng còn gặp `cá ròng ròng`. Tên dân gian không đủ định loài Channa cụ thể, tuổi, kích thước, nguồn giống, tình trạng bảo tồn hay cách thu bắt; không khuyên dùng cá tự nhiên làm thức ăn chăn nuôi; (2) trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, `rồng rồng` còn tả nhiều người đứng tụ lại/chàng ràng mà không có công chuyện làm (*standing around in a cluster; milling about idly*). Đây là lối cũ có sắc thái chê, không dùng làm nhãn trung tính cho đám đông đang chờ, nghỉ, thiếu thông tin hoặc chưa được phân việc. Lời Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay tự nhiên hơn với `đứng chàng ràng`, `tụm lại`, `đứng xớ rớ`, `đứng không`; mỗi từ khác mức chê và vùng dùng. Không nhập `rồng rồng` với `ròng ròng` chất lỏng, `rông rổng` tuôn nhiều hoặc `rồng` linh vật. Tab Nôm ghi `𧍰` đúng đầu mục nguồn có hai chứng tích.