Tấm kiếng hay tấm kim loại láng, phản chiếu hình ảnh, dùng để soi mặt, soi mình.
Tiếng Anh: A mirror, a sheet of glass or polished metal that reflects images, used to look at one's face or oneself.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Tấm kiếng hay tấm kim loại láng, phản chiếu hình ảnh, dùng để soi mặt, soi mình.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Tấm là chữ chỉ vật mỏng và phẳng, gương là vật phản chiếu hình. Người Sài Gòn nói chuyện thường kêu là kiếng, kiếng soi, còn tấm gương hay gặp trong văn viết. Trong kho văn Nam Bộ tấm gương thường gắn với chuyện soi mặt, chải đầu, sửa áo: đứng trước tấm gương, nhìn mình trong tấm gương, tấm gương lớn trước tủ quần áo, tấm gương bàn phấn, tấm gương chiếu hậu trên xe. Xưa có tấm gương đồng làm bằng kim loại. Ngoài nghĩa đó, tấm gương còn có nghĩa bóng là người hay việc đáng cho người khác noi theo, như nêu một tấm gương tốt.
🇬🇧 The first word is a classifier for thin, flat things and the second means a reflecting surface. In everyday Saigon speech people usually say kieng or kieng soi, while this phrase is more common in writing. In the Southern corpus the mirror goes with looking at one's face, combing one's hair, straightening clothes: standing before the mirror, looking at oneself in the mirror, the large mirror on the wardrobe, the dressing table mirror, the rear view mirror of a car. In older times there were bronze mirrors. Beyond this, the phrase also has a figurative sense of a person or deed worth following, as in setting a good example.
Thí dụ:
Hạ ngồi nhìn thấy gương mặt mình hiện ra ở đằng kia, trong một tấm gương.
Ha sat and saw her own face appear over there, in a mirror.
Nguồn: Từ Kế Tường, Mùa Áo VàngTấm gương rộng và cao đặt tại đầu thang soi bóng hai người đang lên.
The wide, tall mirror set at the top of the stairs reflected the two people coming up.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Gieo Gió Gặt BãoTôi nhìn thấy bà trong tấm gương lớn trước tủ quần áo.
I saw her in the large mirror on the front of the wardrobe.
Nguồn: Dung Sàigòn, Tiếng Khóc Mồ CôiCô cười lạt đoạn thủng thỉnh bước vô mui, lấy lược gỡ đầu, soi mặt mình trong tấm gương tròn nhỏ loại bỏ túi.
She gave a thin smile, then strolled into the boat's cabin, took a comb to her hair and looked at her face in a small round pocket mirror.
Nguồn: Lê Xuyên, Rặng Trâm BầuQuí dắt lại đứng trước tấm gương lớn nhắm coi.
Qui led the way over to stand before the large mirror and take a look.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Mẹ ghẻ con ghẻXong nàng đứng mơ màng trước tấm gương lớn.
Then she stood dreamily in front of the large mirror.
Nguồn: Dung Sàigòn, Những Giọt Long LanhBất giác, nàng nghiêng mình qua bên Hiển để nhìn vào tấm gương chiếu hậu để xem lại coi nàng có già lắm hay không.
Without thinking, she leaned toward Hien to look into the rear view mirror and check whether she looked very old.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Nhìn Xuân Người KhácCảnh sau là cảnh buồng ngủ, sáng đèn, và Minh mặc bi da ma, đang đứng trước tấm gương bàn phấn để chải lại mớ tóc ướt vừa lau khô.
The next scene was the bedroom, lamps lit, and Minh in pajamas standing before the dressing table mirror to comb the wet hair just towelled dry.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Uống Lộn Thuốc TiênChiếc áo vàng làm tôi rực rỡ trước tấm gương.
The yellow dress made me radiant in front of the mirror.
Nguồn: Từ Kế Tường, Một Mình Tôi Bước ĐiCông chúa Lạc Xương đem tấm gương đồng, đập bể thành hai rồi trao cho Từ Đức Ngôn một mảnh.
Princess Lac Xuong took the bronze mirror, broke it in two and gave one half to Tu Duc Ngon.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Hạ ngồi nhìn thấy gương mặt mình hiện ra ở đằng kia, trong một tấm gương.”“Tấm gương rộng và cao đặt tại đầu thang soi bóng hai người đang lên.”“Tôi nhìn thấy bà trong tấm gương lớn trước tủ quần áo.”“Cô cười lạt đoạn thủng thỉnh bước vô mui, lấy lược gỡ đầu, soi mặt mình trong tấm gương tròn nhỏ loại bỏ túi.”“Quí dắt lại đứng trước tấm gương lớn nhắm coi.”“Xong nàng đứng mơ màng trước tấm gương lớn.”“Bất giác, nàng nghiêng mình qua bên Hiển để nhìn vào tấm gương chiếu hậu để xem lại coi nàng có già lắm hay không.”“Cảnh sau là cảnh buồng ngủ, sáng đèn, và Minh mặc bi da ma, đang đứng trước tấm gương bàn phấn để chải lại mớ tóc ướt vừa lau khô.”