say trầu

verbadjectiveB2
Giải nghĩa nhanh:

Say trầu means to feel dizzy, nauseated, flushed, or otherwise unwell from chewing a betel quid, especially when unaccustomed to it or when the quid is strong.

Bản biên tập sơ bộChưa mang nhãn verified/gold
Selected Accent:
say trầu(Dạng đọc tham khảo)
Bản đọc máy tham khảo · chưa phải giọng người bản xứ
Giải nghĩa & ghi chú cách dùng

`Say trầu` là bị choáng, nóng bừng, buồn nôn, lảo đảo hoặc khó chịu sau khi ăn/nhai miếng trầu, nhất là người chưa quen hoặc miếng trầu têm mạnh (*feel dizzy or sick from chewing betel quid*). `Trầu` trong văn hóa Việt thường là một tổ hợp có lá trầu, cau và vôi; có thể thêm thành phần khác, nên tên gọi không cho biết chính xác công thức, liều, chất gây phản ứng hay mức nguy hiểm. Không phải mọi người ăn trầu đều say trầu, và cụm không tự chứng minh dị ứng, ngộ độc, lệ thuộc hay bệnh. Giá trị nghi lễ–giao tiếp của trầu không làm thói quen nhai trầu trở thành vô hại; cau/trầu có nguy cơ sức khỏe dài hạn cần trình bày riêng, không dùng câu ví dụ để khuyến khích tập ăn. Trong lời Nam Bộ, `ăn trầu bị choáng`, `miếng trầu nồng quá làm xây xẩm` rõ nghĩa hơn. Phân biệt `say trầu` với `say thuốc`, `say rượu` và nghĩa bóng `say tình`. Tab Hán–Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.

Nét nghĩa được xếp theo độ thông dụng và ích lợi cho người học:

1 nét nghĩa
1choáng, buồn nôn hoặc khó chịu sau khi ăn trầu, nhất là khi chưa quen hoặc miếng trầu mạnhTrầu cau; trạng thái cơ thể; văn hóa[regional]
B2

🇻🇳 Phản ứng cấp được mô tả bằng lời dân gian; thành phần, nguyên nhân và mức nguy hiểm phải xét riêng.

🇬🇧 Dizzy, nauseated, flushed, or otherwise unwell after chewing a betel quid, especially when unaccustomed to it.

Grammar Patterns:
chủ thể + say trầuăn/nhai + trầu + rồi + say trầu

Ví dụ dùng từ:

Cô mới tập ăn đã say trầu, mặt nóng bừng và phải ngồi nghỉ.

She has only just tried chewing betel when it makes her dizzy and flushed, so she has to sit down.

Source: VietLayers editorial example

Say trầu không cho biết miếng trầu có bao nhiêu cau, vôi hoặc thành phần khác.

Say trầu does not reveal how much areca nut, lime, or other ingredients were in the quid.

Source: VietLayers editorial example

Không phải ai ăn trầu cũng say trầu, vì phản ứng và thói quen mỗi người khác nhau.

Not everyone who chews betel becomes dizzy from it, since reactions and familiarity differ.

Source: VietLayers editorial example

Má nói miếng trầu nồng quá làm con xây xẩm, một cách diễn đạt rõ hơn chỉ nói say trầu.

Mom says the strong betel quid made her child woozy, which is clearer than merely saying say trầu.

Source: VietLayers editorial example

Từ say trầu không đủ để kết luận người ấy bị dị ứng hay ngộ độc.

The phrase say trầu is not enough to conclude that the person has an allergy or poisoning.

Source: VietLayers editorial example

Người dịch chọn feel sick from chewing betel cho say trầu trong câu tả buồn nôn.

The translator uses feel sick from chewing betel for say trầu in a sentence describing nausea.

Source: VietLayers editorial example

Say trầu là phản ứng cấp, còn nguy cơ sức khỏe do nhai cau trầu lâu dài phải giải thích ở phần riêng.

Say trầu is an acute reaction, while long-term health risks from betel and areca chewing need separate explanation.

Source: VietLayers editorial example

Bài viết về phong tục nhắc say trầu nhưng không vì vậy mà khuyên người chưa quen tập ăn.

The article on custom mentions say trầu without thereby encouraging newcomers to take up the habit.

Source: VietLayers editorial example

Say trầu khác say tình: một cụm tả phản ứng cơ thể, cụm kia là lối nói về cảm xúc.

Say trầu differs from being lovestruck: one describes a bodily reaction, while the other is figurative emotion.

Source: VietLayers editorial example

Nếu người say trầu có triệu chứng nặng hoặc kéo dài, gia đình cần đánh giá tình trạng thật thay vì chỉ gọi tên dân gian.

If someone affected by betel has severe or persistent symptoms, the family needs to assess the actual condition rather than rely only on the folk label.

Source: VietLayers editorial example