Phía sau cổ, ngay dưới đầu, chỗ chơn tóc mọc xuống, tức là cái gáy.
Tiếng Anh: The back of the neck just below the head, where the hairline ends; the nape.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Phía sau cổ, ngay dưới đầu, chỗ chơn tóc mọc xuống, tức là cái gáy.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Ót là tiếng Nam Bộ chỉ phần sau cổ, chỗ tiếp với đầu; nói sau ót là chỉ ngay chỗ đó, phía sau nên mình không thấy được. Trong kho văn Nam Bộ sau ót hay đi với tóc: tóc bới thành búi sau ót, tóc cột lại thành cái nơ, tóc hớt vắn đằng trước mà dài sau ót, vài sợi tóc phất phơ sau ót. Nó cũng đi với tay: hai tay chấp sau ót, hai tay khoành ra sau ót gối đầu, là cái dáng người nằm nghỉ hay nằm suy nghĩ.
🇬🇧 Ot is the Southern word for the back of the neck where it meets the head; sau ot points to that very spot, behind, where one cannot see. In the Southern corpus it often goes with hair: hair put up in a bun at the nape, tied into a bow, cut short in front but long at the nape, a few strands fluttering there. It also goes with hands: hands clasped behind the neck, arms folded back to pillow the head, the posture of someone lying down to rest or to think.
Thí dụ:
Mỗi ngày một sợi khác màu với nhau, rồi cột lại sau ót thành một cái nơ.
Each day a strand of a different color, then tied at the back of the neck into a bow.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Nụ Cười, Nước Mắt Học TròKhi thì bới thành búi to sau ót, gài lại bằng một cọng gai kim quít.
Sometimes it was put up in a big bun at the nape, fastened with a kim quit thorn.
Nguồn: Sơn Nam, Hương Rừng Cà MauHàng trăm con vật gì bò chạy nhột nhạt trên tóc, sau ót, chui vào cổ áo mà cắn đau điếng.
Hundreds of little creatures crawled ticklishly over the hair and the nape, slipped into the collar and bit painfully.
Nguồn: Sơn Nam, Người Bạn Triệu PhúHai chân anh ta duỗi thẳng ra, hai tay khoành ra sau ót gối đầu.
His legs stretched straight out, both arms folded back behind his neck to pillow his head.
Nguồn: Lê Xuyên, Chú Tư CầuMặt mày tay chơn nó trắng nõn, tóc nó hớt bôm bê nên trước trán vắn mà hai bên vớt sau ót lại dài.
Face, hands and feet were milky white, the hair bobbed so that it was short over the forehead but long at the nape.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vì nghĩa vì tìnhĐã vậy mà mặc áo cổ trịt , nên trọn cái cổ lòi ra, rồi năm ba sợi tóc vướng phất phơ sau ót coi còn đẹp hơn nữa.
On top of that she wore a low round collar, so the whole neck showed, and a few strands of hair fluttering at the nape made her look even prettier.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Kẻ làm người chịuQuan Phủ lột khăn đen, cởi áo dài mà rửa mặt, rồi lại nằm trên cái ghế xích đu, hai tay chấp sau ót, mắt ngó sửng ra sân, coi sắc mặt đủ biết ngài đương buồn lo lung lắm.
The district chief took off his black turban and long tunic to wash his face, then lay down again on the rocking chair, hands clasped behind his neck, staring blankly out at the yard; one look at his face told you he was deeply worried.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Bỏ vợTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“Mỗi ngày một sợi khác màu với nhau, rồi cột lại sau ót thành một cái nơ.”“Khi thì bới thành búi to sau ót, gài lại bằng một cọng gai kim quít.”“Hàng trăm con vật gì bò chạy nhột nhạt trên tóc, sau ót, chui vào cổ áo mà cắn đau điếng.”“Hai chân anh ta duỗi thẳng ra, hai tay khoành ra sau ót gối đầu.”“Mặt mày tay chơn nó trắng nõn, tóc nó hớt bôm bê nên trước trán vắn mà hai bên vớt sau ót lại dài.”“Đã vậy mà mặc áo cổ trịt , nên trọn cái cổ lòi ra, rồi năm ba sợi tóc vướng phất phơ sau ót coi còn đẹp hơn nữa.”“Quan Phủ lột khăn đen, cởi áo dài mà rửa mặt, rồi lại nằm trên cái ghế xích đu, hai tay chấp sau ót, mắt ngó sửng ra sân, coi sắc mặt đủ biết ngài đương buồn lo lung lắm.”