Trong đầu rối rắm, không yên vì có chuyện phải lo, phải nghĩ, tới nỗi không làm gì cho đàng hoàng được.
Tiếng Anh: To have one's mind stirred up and unsettled by worries, so that one cannot do anything properly.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Trong đầu rối rắm, không yên vì có chuyện phải lo, phải nghĩ, tới nỗi không làm gì cho đàng hoàng được.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Rộn là lộn xộn, không yên, trí là đầu óc, sự suy nghĩ. Rộn trí là đầu óc bị khuấy rối vì có chuyện phải lo. Trong kho văn Nam Bộ, nhứt là văn Hồ Biểu Chánh, nó hay đi với cái hậu quả: rộn trí viết không được, rộn trí ngủ không được. Nó dùng được hai kiểu: người rộn trí về một nỗi gì, hay một chuyện làm rộn trí người ta (làm rộn trí em, càng rộn trí moa). Có khi nó đi cặp với rối lòng. Đây là lối nói xưa của người Nam.
🇬🇧 Ron means stirred up and restless, tri the mind. Ron tri is a mind disturbed by something to worry about. In the Southern corpus, above all in Ho Bieu Chanh, it often comes with its consequence: too troubled to write, too troubled to sleep. It works two ways, a person is troubled about something, or a matter troubles someone. Sometimes it pairs with roi long, a tangled heart. It is an older Southern turn of phrase.
Thí dụ:
Nếu để tôi ở thì rộn trí viết không được chớ không phải quên tình cũ nghĩa xưa.
If I stayed, my mind would be too unsettled to write; it is not that I have forgotten old ties and past kindness.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cư KỉnhSự lập nhà trường nó làm rộn trí em ngủ không được.
The business of setting up the school has my mind so stirred up that I cannot sleep.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Đoạn tìnhBà phán nghe câu chuyện của con nói hồi nãy bà còn đương rộn trí rối lòng, nên bà không biết lấy lời chi mà cầm ông Xương lại.
Madam Phan's mind was still troubled and her heart in a tangle over what her child had said a while ago, so she could find no words to make Mr. Xuong stay.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Hai khối tìnhKỉnh Chi càng nghe càng rộn trí, không hiểu vì sao mà Chúa tàu lại xưng là Lê Thủ Nghĩa, vì sao mà vợ mình lại quen với Chúa tàu.
The more Kinh Chi heard, the more unsettled his mind became; he could not understand why the ship's master called himself Le Thu Nghia, or how his own wife came to know him.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Chúa tàu Kim QuiNàng đau lòng về nỗi cha chết mà không thấy mặt con, không trối được một lời rồi nàng lại rộn trí về nỗi nợ đòi không biết làm sao có tiền mà trả.
She grieved that her father had passed away without seeing his child's face or leaving a last word, and then her mind was troubled over the debts being called in, with no idea where to find the money to pay.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùaToa đi một đường, moa đi một ngả, nếu nói cho toa biết ngả của moa đi, chi cho khỏi toa làm mặt “thầy đời”, toa khuyên lơn, toa can dứt càng rộn trí moa.
You go one way and I go another; if I told you which way I was going, you would surely play the know-it-all, advising me and trying to talk me out of it, which would only trouble my mind more.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ý và tìnhTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Nếu để tôi ở thì rộn trí viết không được chớ không phải quên tình cũ nghĩa xưa.”“Sự lập nhà trường nó làm rộn trí em ngủ không được.”“Bà phán nghe câu chuyện của con nói hồi nãy bà còn đương rộn trí rối lòng, nên bà không biết lấy lời chi mà cầm ông Xương lại.”“Kỉnh Chi càng nghe càng rộn trí, không hiểu vì sao mà Chúa tàu lại xưng là Lê Thủ Nghĩa, vì sao mà vợ mình lại quen với Chúa tàu.”“Nàng đau lòng về nỗi cha chết mà không thấy mặt con, không trối được một lời rồi nàng lại rộn trí về nỗi nợ đòi không biết làm sao có tiền mà trả.”“Toa đi một đường, moa đi một ngả, nếu nói cho toa biết ngả của moa đi, chi cho khỏi toa làm mặt “thầy đời”, toa khuyên lơn, toa can dứt càng rộn trí moa.”