Giải nghĩa nhanh:

Nằm ngay đơ means lying straight, stiff, or nearly motionless; the cause may range from cramped sleep or exhaustion to restraint, fainting, severe illness, or death, and must come from context.

Bản biên tập sơ bộChưa mang nhãn verified/gold
Selected Accent:
nằm ngay đơ(Dạng đọc tham khảo)
Bản đọc máy tham khảo · chưa phải giọng người bản xứ
Giải nghĩa & ghi chú cách dùng

Nằm ngay đơ là cụm miêu tả một người hoặc con vật nằm thẳng, cứng hay gần như không cử động. Văn cảnh có thể là nằm chật không trở mình được, mệt lả, đau, ngất, bị giữ, bị thương hoặc đã chết; riêng cụm từ không đủ xác định nguyên nhân. Nó không tự chứng minh tử vong, tê liệt, bất tỉnh, đồng ý bị giữ, nằm thoải mái hay mang một bệnh nào. Đây cũng không phải ngay đơ ở nghĩa cũ đờ mặt, hết đường cãi. Khi tình huống liên quan sức khỏe hoặc an toàn, phải mô tả thêm nhịp thở, phản ứng, hoàn cảnh và gọi trợ giúp phù hợp thay vì chẩn đoán bằng thành ngữ.

Nét nghĩa được xếp theo độ thông dụng và ích lợi cho người học:

1 nét nghĩa
1nằm thẳng, cứng hoặc gần như bất động theo hoàn cảnhTư thế, chuyển động và lời kể tình huống[informal]
B2

🇻🇳 Tả tư thế hay mức cử động nhìn thấy; nguyên nhân và tình trạng sống, tỉnh, đau hay bị giữ phải xác minh riêng.

🇬🇧 To lie straight, stiff, or nearly motionless, with the cause supplied by context rather than the phrase itself.

Grammar Patterns:
chủ thể + nằm ngay đơ + nơi chốnnằm ngay đơ + vì/sau + hoàn cảnhbị + tác động + nằm ngay đơ

Ví dụ dùng từ:

Chen nhau trên bộ ván chật, thằng nhỏ phải nằm ngay đơ tới sáng chớ không trở mình được.

Crowded onto a narrow wooden platform, the boy lies straight until morning without room to turn.

Source: VietLayers editorial example

Chú làm đồng về mệt quá, nằm ngay đơ trên chõng một hồi rồi mới ngồi dậy uống nước.

Exhausted after field work, he lies motionless on the cot for a while before sitting up for water.

Source: VietLayers editorial example

Thấy bà nằm ngay đơ và gọi không đáp, người nhà kiểm tra phản ứng rồi gọi cấp cứu liền.

Finding her motionless and unresponsive, the family checks for a response and immediately calls emergency services.

Source: VietLayers editorial example

Trong đoạn này, người bị trói nằm ngay đơ vì dây giữ chặt, không phải vì câu văn xác nhận tê liệt.

Here the bound person lies stiff because of the restraints, not because the text establishes paralysis.

Source: VietLayers editorial example

Con chó nằm ngay đơ dưới bóng mát nhưng vẫn ngẩng đầu khi nghe chủ gọi.

The dog lies stretched out in the shade but raises its head when its owner calls.

Source: VietLayers editorial example

Nhân vật đau quặn rồi nằm ngay đơ; người kể chưa cho biết nguyên nhân hay chẩn đoán.

The character doubles over in pain and then lies still; the narrator gives no cause or diagnosis.

Source: VietLayers editorial example

Văn cũ viết thi thể nằm ngay đơ, nên cái chết được xác định từ chữ thi thể chớ không phải riêng cụm này.

The old text says a body lies stiff, so death is established by 'body,' not by this phrase alone.

Source: VietLayers editorial example

Nằm ngay đơ trong căn phòng vắng không tự cho biết người ấy đang ngủ, ngất hay giả bộ.

Lying motionless in an empty room does not reveal whether the person is asleep, unconscious, or pretending.

Source: VietLayers editorial example

Bản dịch chọn lay rigid cho nằm ngay đơ khi đoạn văn nhấn độ cứng, còn lay motionless khi nhấn bất động.

The translation uses 'lay rigid' when stiffness is central and 'lay motionless' when lack of movement is central.

Source: VietLayers editorial example

Đừng nhập nằm ngay đơ với ngay đơ nghĩa hết đường cãi, vì một cụm tả tư thế còn một từ tả thế tranh luận.

Do not merge the posture phrase with the older expression for being unable to argue; they belong to different senses.

Source: VietLayers editorial example
Chứng liệu văn học

Cách dùng đã được đối chiếu trong tác phẩm

Chàng lên tới tàu thì đuối sức nên nằm ngay đơ.
Hồ Biểu ChánhChút phận linh đinh, Chương 14
“ Chánh Tâm thấy hình dạng như vầy, rồi lại nghe lời điên cuồng như vậy nữa, chàng đau đớn ăn năn quá nên chàng té xỉu nằm ngay đơ dưới đất.
Hồ Biểu ChánhKẻ làm người chịu, Chương XIV - TỈNH NGỘ ĂN NĂN