Tin mù quáng vô những điều không có lẽ gì chứng minh như ma quỷ, bùa phép, điềm lành điềm dữ; cũng chỉ chính niềm tin đó.
Tiếng Anh: Blindly believing in groundless things such as ghosts, charms and omens; also such a belief itself, a superstition.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Tin mù quáng vô những điều không có lẽ gì chứng minh như ma quỷ, bùa phép, điềm lành điềm dữ; cũng chỉ chính niềm tin đó.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Mê là lầm lạc, say mê tới mất sáng suốt, tín là tin. Mê tín là tin mù quáng, nhứt là tin vô ma quỷ, bùa phép, điềm báo. Trong kho văn Nam Bộ nó làm tính từ (họ lại mê tín) và làm danh từ (một mê tín của nhân dân, sự mê tín). Rất hay gặp nó đứng chung với dị đoan thành mê tín dị đoan, hay đảo lại dị đoan mê tín, để chỉ những lối thờ cúng, kiêng cữ mà người viết cho là không có lẽ phải. Giọng văn thường là giọng người đứng ngoài nhận xét, có khi chê, có khi chỉ kể lại phong tục xưa.
🇬🇧 The first part means to be led astray or infatuated past good sense, the second means to believe. The compound means to believe blindly, above all in ghosts, charms and omens. In the Southern corpus it works as an adjective (they were superstitious besides) and as a noun (a popular superstition). It very often pairs with di doan, groundless belief, in either order, to name forms of worship and taboos the writer finds without reason. The voice is usually that of an outside observer, sometimes disapproving, sometimes simply recording old customs.
Thí dụ:
Nhưng Tư Bá đã nghĩ kỹ rồi: chú sẽ lấy độc trừ độc, dùng dị đoan mê tín để trừ mê tín dị đoan.
But Tu Ba had thought it through: he would fight poison with poison, using superstition to drive out superstition.
Nguồn: Sơn Nam, Vạch Một Chân TrờiVừa mở sợi dây phía mũi xuồng của lão Ngượt, Hai Cần vừa phân vân: điềm dị đoan, mê tín gì đây?
While untying the rope at the bow of old Nguot's boat, Hai Can wondered: what superstitious omen could this be?
Nguồn: Sơn Nam, Biển Cỏ Miền TâyTrong tập tùy bút nói trên, Phạm Đình Hổ liên tục công kích những kiểu thờ cúng đáng gọi là mê tín dị đoan.
In that collection of essays, Pham Dinh Ho repeatedly attacks kinds of worship that deserve to be called superstition.
Nguồn: Sơn Nam, Thuần Phong Mỹ Tục Việt NamTừ lúc tỉnh dậy đến bây giờ có nhiều bận chàng nghĩ đến những vụ thay hồn đổi xác, một mê tín của nhân dân.
Since waking up he had thought many times about souls trading bodies, a popular superstition.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Khi Từ Thức Về TrầnHọ lại mê tín, thấy bò ốm, bò già, ngỡ bò tốt của họ bị ma làm, nên chỉ run sợ mà không rình rập để khám phá ra quỉ kế.
They were superstitious besides: seeing their cattle grow thin and old, they thought ghosts had bewitched their good animals, so they only trembled instead of keeping watch to uncover the trick.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Đèn Cần GiờNgày nay, những chuyện đốt pháo trừ hung thần Na Á và vẽ cung tên trước cửa để trừ thần ôn dịch bị coi là mê tín dị đoan, nên bỏ lần lần không ai theo nữa.
Nowadays, setting off firecrackers to ward off the evil spirit Na A and drawing a bow and arrow by the door to keep away the plague god are seen as superstition, so little by little nobody follows them anymore.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Nhưng Tư Bá đã nghĩ kỹ rồi: chú sẽ lấy độc trừ độc, dùng dị đoan mê tín để trừ mê tín dị đoan.”“Vừa mở sợi dây phía mũi xuồng của lão Ngượt, Hai Cần vừa phân vân: điềm dị đoan, mê tín gì đây?”“Trong tập tùy bút nói trên, Phạm Đình Hổ liên tục công kích những kiểu thờ cúng đáng gọi là mê tín dị đoan.”“Từ lúc tỉnh dậy đến bây giờ có nhiều bận chàng nghĩ đến những vụ thay hồn đổi xác, một mê tín của nhân dân.”“Họ lại mê tín, thấy bò ốm, bò già, ngỡ bò tốt của họ bị ma làm, nên chỉ run sợ mà không rình rập để khám phá ra quỉ kế.”“Ngày nay, những chuyện đốt pháo trừ hung thần Na Á và vẽ cung tên trước cửa để trừ thần ôn dịch bị coi là mê tín dị đoan, nên bỏ lần lần không ai theo nữa.”