Khuôn mặt của một người, nhứt là cái vẻ hiện ra trên mặt lúc vui, buồn, sợ hay mệt.
Tiếng Anh: A person's face, especially the look it wears when they are happy, sad, frightened or tired.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Khuôn mặt của một người, nhứt là cái vẻ hiện ra trên mặt lúc vui, buồn, sợ hay mệt.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Mày là chân mày, ghép với mặt thành một chữ chỉ cả gương mặt. Trong kho văn Nam Bộ mặt mày ít khi nói hình dạng, mà hay nói cái vẻ đang hiện ra: mặt mày buồn xo, buồn hiu, tái xanh, đỏ rần, hớn hở tươi cười, bí xị, nghiêm nghị, tươi tắn. Nó thường đứng sau tên người rồi tới chữ tả vẻ mặt. Xây xẩm mặt mày là lối nói quen cho lúc chóng mặt, choáng váng.
🇬🇧 The second word means eyebrows, and joined to face it names the whole countenance. In the Southern corpus it seldom describes features and mostly describes the look of the moment, glum, downcast, pale, flushed red, beaming, sulky, serious, radiant. It usually follows a person's name and is followed by the word for the look. Dizziness in the face is a set way of saying one feels faint and reeling.
Thí dụ:
Đứa lớn đưa tay mà lấy, mặt mày vui cười; đứa nhỏ thì sợ, nên thụt tay rút cổ.
The older child reached out and took it, face all smiles; the younger one was afraid and shrank back, pulling in hand and neck.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Kẻ làm người chịuSơn Nhỏ nín thinh ngồi phịch lên trên chiếc nóp đã cuốn tròn, mặt mày buồn xo.
Son Nho plopped down without a word on the rolled-up rush sleeping bag, looking glum.
Nguồn: Lê Xuyên, Vợ Thầy HươngBà Phủ riu ríu xuống, cặp mắt chớp lạch, mặt mày tái xanh, coi bộ sợ sệt lắm.
Madam Phu meekly came down, eyes blinking fast, face gone pale, looking very frightened.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ai làm đượcCách một hồi cô Xuyến ở trong buồng đi ra, bây giờ mặt mày cô hớn hở tươi cười.
A while later Xuyen came out of the bedroom, and now her face was beaming with smiles.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vợ già chồng trẻCó điều đáng chú ý là ở góc sân có một chàng trai mặt mày nghiêm nghị, nhỏ con.
What caught the eye was a young man at the corner of the yard, slightly built, with a serious face.
Nguồn: Sơn Nam, Bà Chúa HònCon Bảy Rùa rinh hai bao quà vào tới nền quán thì mặt mày đỏ rần lên vì mệt.
By the time Bay Rua had lugged the two bags of gifts into the shop, that face was flushed bright red from the effort.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Quán Tai HeoNhà vua đói rã ruột, mặt mày bí xị mà không thấy món trứng đá dọn ra để ăn.
The king was faint with hunger and sulky in the face, and still no dish of stone eggs was served.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủTừ đó cho tới ngày cưới, thì Thu Hà mặt mày tươi tắn, trí não tiêu diêu.
From then until the wedding day, Thu Ha's face was radiant and her mind carefree.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Khóc thầmThình lình Tuấn nghe xây xẩm mặt mày, rồi chàng choáng váng, lảo đảo muốn ngã.
Suddenly Tuan felt dizzy, then he reeled and staggered as if about to fall.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Cuống Rún Chưa LìaHương quản rón rén bước vô cửa, xá quan Chủ quận với bà Huyện, mà mặt mày buồn hiu.
The village constable tiptoed through the door and bowed to the district chief and the magistrate's wife, his face downcast.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cư KỉnhTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Đứa lớn đưa tay mà lấy, mặt mày vui cười; đứa nhỏ thì sợ, nên thụt tay rút cổ.”“Sơn Nhỏ nín thinh ngồi phịch lên trên chiếc nóp đã cuốn tròn, mặt mày buồn xo.”“Bà Phủ riu ríu xuống, cặp mắt chớp lạch, mặt mày tái xanh, coi bộ sợ sệt lắm.”“Cách một hồi cô Xuyến ở trong buồng đi ra, bây giờ mặt mày cô hớn hở tươi cười.”“Có điều đáng chú ý là ở góc sân có một chàng trai mặt mày nghiêm nghị, nhỏ con.”“Con Bảy Rùa rinh hai bao quà vào tới nền quán thì mặt mày đỏ rần lên vì mệt.”“Nhà vua đói rã ruột, mặt mày bí xị mà không thấy món trứng đá dọn ra để ăn.”“Từ đó cho tới ngày cưới, thì Thu Hà mặt mày tươi tắn, trí não tiêu diêu.”