Giải nghĩa nhanh:

A historical name, 六省, for the six southern provinces organized under the Nguyễn dynasty from 1832: Phiên An (later Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, and Hà Tiên. It is not a current administrative division.

Bản biên tập sơ bộChưa mang nhãn verified/gold
Selected Accent:
lục tỉnh(Dạng đọc tham khảo)
Bản đọc máy tham khảo · chưa phải giọng người bản xứ
Giải nghĩa & ghi chú cách dùng

Danh từ lịch sử Hán–Việt `六省`, nghĩa đen là “sáu tỉnh”, thường nằm trong `Nam Kỳ lục tỉnh`. Cơ cấu sáu tỉnh miền Nam được xác lập trong cải cách hành chính triều Minh Mạng năm 1832: Phiên An (đổi thành Gia Định năm 1835), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên: the Six Provinces of Southern Vietnam. Về sau, `lục tỉnh` còn sống trong tên sách, báo, ký ức vùng và cách nói văn hóa. Đây là thuật ngữ lịch sử, không phải danh sách đơn vị hành chính hiện hành; khi dùng cho một thời điểm sau các lần chia lại địa giới phải ghi rõ đó là hồi cố, tên gọi văn hóa hay phạm vi nào.

Nét nghĩa được xếp theo độ thông dụng và ích lợi cho người học:

1 nét nghĩa
1tên lịch sử của sáu tỉnh Nam Kỳ được xác lập từ năm 1832Lịch sử và địa lý Nam Bộ[archaic]
B2

🇻🇳 Chỉ sáu tỉnh Phiên An (sau đổi thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên trong tổ chức hành chính miền Nam thời Nguyễn, đồng thời là tên gọi lịch sử-văn hóa của vùng trong văn liệu về sau.

🇬🇧 The six southern provinces of Phiên An (later Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, and Hà Tiên under the Nguyễn dynasty, and a later historical-cultural name for that region.

Grammar Patterns:
Nam Kỳ + lục tỉnhđất/người/văn hóa + lục tỉnhlục tỉnh + thời nhà Nguyễn

Ví dụ dùng từ:

Cơ cấu lục tỉnh năm 1832 gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên; Phiên An đổi thành Gia Định năm 1835.

The 1832 Six Provinces structure comprised Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, and Hà Tiên; Phiên An was renamed Gia Định in 1835.

Source: VietLayers editorial example

Bản đồ lục tỉnh trong phòng trưng bày ghi địa giới theo một giai đoạn lịch sử, không theo ranh tỉnh ngày nay.

The Six Provinces map in the exhibition shows boundaries from a historical period, not today's provincial borders.

Source: VietLayers editorial example

Ba tỉnh miền Đông lục tỉnh thường được kể là Gia Định, Định Tường và Biên Hòa; ở mốc 1832 phải ghi Gia Định là Phiên An.

The three eastern provinces are usually listed as Gia Định, Định Tường, and Biên Hòa; for 1832, Gia Định should be identified as Phiên An.

Source: VietLayers editorial example

Ba tỉnh miền Tây lục tỉnh gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

The three western provinces of the Six Provinces were Vĩnh Long, An Giang, and Hà Tiên.

Source: VietLayers editorial example

Tên lục tỉnh xuất hiện trong nhan đề báo Lục Tỉnh Tân Văn, phản ánh phạm vi độc giả Nam Kỳ đầu thế kỷ XX.

The name lục tỉnh appears in the newspaper title Lục Tỉnh Tân Văn, reflecting its Southern readership in the early twentieth century.

Source: VietLayers editorial example

Nhà nghiên cứu dùng địa bạ lục tỉnh để tìm hiểu ruộng đất Nam Bộ dưới triều Nguyễn.

The researcher uses cadastral records from the Six Provinces to study Southern landholding under the Nguyễn dynasty.

Source: VietLayers editorial example

Trong văn chương, đất lục tỉnh có thể gợi cả một không gian văn hóa, nhưng bài chú giải vẫn phải nêu mốc thời gian.

In literature, đất lục tỉnh can evoke a broad cultural region, but an annotation should still state the relevant period.

Source: VietLayers editorial example

Không nên lấy sáu tên trong lục tỉnh thay cho danh sách tỉnh, thành hiện hành của Nam Bộ.

The six names in lục tỉnh should not be used as a current list of Southern provinces and municipalities.

Source: VietLayers editorial example

Tư liệu gọi Phiên An rồi Gia Định trong lịch sử lục tỉnh cần được đọc theo từng niên đại cụ thể.

Sources that use Phiên An and later Gia Định in the history of the Six Provinces must be read against their specific dates.

Source: VietLayers editorial example

Lục tỉnh là tên lịch sử có chữ 六省, chớ không phải cứ sáu tỉnh bất kỳ hợp lại đều thành một địa danh ấy.

Lục tỉnh is the historical name written 六省; it does not mean that any arbitrary set of six provinces forms that region.

Source: VietLayers editorial example
Chứng liệu văn học

Cách dùng đã được đối chiếu trong tác phẩm

Bạch Tuyết đã đi qua khỏi rồi, nghe mấy lời ấy biết cô nọ là người Lục tỉnh chưa từng lên Sài Gòn, vừa muốn trở lại hỏi thăm cho rõ, rồi chỉ giùm làm nghĩa, kế thấy một người xe kéo khác kề xe lại hỏi rằng:
Hồ Biểu ChánhAi làm được, Chương năm
- Đi làm trong Lục tỉnh nữa hay sao?
Hồ Biểu ChánhBỏ vợ, Chương 1
Nhưng, Bình nghĩ sống ở Sài Gòn hay trong lục tỉnh tự nhiên phải gặp người quen biết rồi hổ thẹn trong lòng.
Hồ Biểu ChánhBức thơ hối hận, Chương 5
Tư Cồ khoe khoang rằng đã phiêu bạt khắp Nam Kỳ, lục tỉnh, biết làm đủ thứ nghề.
Sơn Nam26 Truyện Ngắn Sơn Nam, Ruộng Lò Bom