Ngươn is an older Southern form of nguyên in particular Sino-Vietnamese compounds, especially Ngươn Đán 元旦 and older religious or learned expressions. It is not a rule for replacing every nguyên.
Giải nghĩa & ghi chú cách dùng
`Ngươn` là dạng âm/ghi cũ ở Nam Bộ của `nguyên` trong từng tổ hợp Hán–Việt có chứng tích. Rõ nhất là `Ngươn Đán` (`元旦`), tên ngày đầu năm/Tết; corpus còn có `thượng ngươn`, `trung ngươn`, `hạ ngươn`, `ngươn khí`, `ngươn thần` và `ngươn thủy` trong văn lịch sử, tôn giáo hoặc dịch thuật, với chữ nguồn và nghĩa phải xét theo toàn từ. Không nhập `ngươn` với `nguồn`; không biến nó thành phép thay tự động trong `nguyên âm`, `nguyên tố`, `nguyên liệu`, `nguyên văn`. Đặc biệt, kho văn Nam Bộ xác nhận `nguyên nhơn` rất rõ nhưng chưa có `ngươn nhơn`; không được chồng hai phép đổi nguyên→ngươn và nhân→nhơn để tự sinh một dạng không có chứng tích. Trong văn hiện hành, dùng `Nguyên Đán`, `thượng nguyên`, `nguyên khí`… theo quy ước của từng lĩnh vực; giữ `Ngươn` trong lời trích, tên riêng và truyền thống viết có thật.
Nét nghĩa được xếp theo độ thông dụng và ích lợi cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Thành tố cũ/vùng tương ứng với nguyên ở từng từ ghép, thường thuộc văn lễ tiết, tôn giáo, triết học hoặc văn xuôi Nam Bộ cũ.
🇬🇧 An older Southern form of nguyên in specifically attested Sino-Vietnamese compounds.
Ví dụ dùng từ:
Tiết Ngươn Đán gần tới, nhà nào cũng sửa soạn đón năm mới.
The Ngươn Đán festival is approaching, and every household is preparing for the new year.
Source: VietLayers editorial exampleBản chép giữ chữ Ngươn Đán vì đó là cách viết trong tác phẩm Nam Bộ cũ.
The transcription preserves Ngươn Đán because that is the spelling used in the older Southern work.
Source: VietLayers editorial exampleBài giới thiệu hiện nay có thể chú Ngươn Đán là dạng cũ của Nguyên Đán 元旦.
A current introduction may note that Ngươn Đán is an older form of Nguyên Đán 元旦.
Source: VietLayers editorial exampleTrong tư liệu tín ngưỡng, thượng ngươn phải được giải theo lễ tiết cụ thể của văn bản.
In a religious source, thượng ngươn must be explained according to the festival context of that text.
Source: VietLayers editorial exampleCụm hạ ngươn trong bài đạo học không tự mang cùng nghĩa với ngày Tết Ngươn Đán.
Hạ ngươn in a religious text does not automatically have the same meaning as Tết Ngươn Đán.
Source: VietLayers editorial exampleNgươn khí là một tổ hợp chuyên biệt; bản dịch phải theo hệ tư tưởng của nguồn, không đoán từ âm.
Ngươn khí is a specialized expression whose translation must follow the source's conceptual system rather than pronunciation alone.
Source: VietLayers editorial exampleNgươn thần trong truyện cũ thuộc lớp thuật ngữ tôn giáo, chớ không phải tên chung cho tinh thần hằng ngày.
Ngươn thần in an old tale belongs to religious terminology, not everyday language for one's spirits.
Source: VietLayers editorial exampleDạng ngươn thủy có trong văn liệu, nhưng người biên tập phải xác nhận toàn cụm trước khi nối với nguyên thủy.
The form ngươn thủy occurs in texts, but an editor must verify the whole expression before linking it to nguyên thủy.
Source: VietLayers editorial exampleCorpus ghi nguyên nhơn nhiều lần, nên hệ thống không được tự sửa thành ngươn nhơn.
The corpus repeatedly records nguyên nhơn, so the system must not automatically change it to ngươn nhơn.
Source: VietLayers editorial exampleTên người có chữ Ngươn phải được giữ đúng giấy tờ, không chuẩn hóa sang Nguyên bằng máy.
A personal name containing Ngươn must be preserved as documented rather than mechanically normalized to Nguyên.
Source: VietLayers editorial exampleCách dùng đã được đối chiếu trong tác phẩm
“Tiết Ngươn Đán đã gần tới rồi, nhà nào cũng đi chợ mua đồ sắm sửa ăn tết.”
“Tới lễ ngươn đán, các nhựt báo ở Sài Gòn đều đình bản năm ngày cho tòa soạn và nhà in nghỉ ăn tết.”