Gương mặt mất hết vẻ hồng hào, trắng bệch ra vì sợ hãi, lo lắng hay mắc cỡ quá sức.
Tiếng Anh: A face drained of all color, gone pale from fear, worry or overwhelming shame.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Gương mặt mất hết vẻ hồng hào, trắng bệch ra vì sợ hãi, lo lắng hay mắc cỡ quá sức.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Mặt mày là gương mặt nói chung, tái xanh là mất hết hồng hào, trắng mà hơi xanh. Ghép lại, cụm nầy tả sắc mặt của người đang sợ, đang lo hay đang mắc cỡ tới mức không giấu được. Trong kho văn Nam Bộ, nhứt là truyện Hồ Biểu Chánh, nó hay đi chung với những dấu hiệu khác của cơn sợ: tay chơn run, không nói được một tiếng, đứng nép vô vách, ngồi đứng không yên, nước mắt chảy ròng ròng. Người ta thường thấy nó ngay sau lúc nghe một lời hay thấy một cảnh làm mình hoảng.
🇬🇧 The first part means the face as a whole, the second to go pale, white with a greenish cast. Together the phrase describes the look of someone so frightened, worried or ashamed that it cannot be hidden. In the Southern corpus, above all in Ho Bieu Chanh, it keeps company with other signs of fear: trembling hands and feet, being unable to say a word, pressing against a wall, being unable to sit or stand still, tears streaming down. It usually comes right after a person hears a word or sees a sight that alarms them.
Thí dụ:
Bà Phủ riu ríu xuống, cặp mắt chớp lạch, mặt mày tái xanh, coi bộ sợ sệt lắm.
Madam Phu came down meekly, eyes blinking fast, face gone pale, looking very frightened.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ai làm đượcCòn thằng Hồi, thì nó kinh hãi, đứng nép dựa vách mặt mày tái xanh.
As for the boy Hoi, he was terrified and stood pressed against the wall, his face drained of color.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vì nghĩa vì tìnhThằng Được nghe nói mấy lời nghĩ là họ nói chuyện thầy mình, nên mặt mày tái xanh, lo sợ hết sức.
Duoc heard those few words and thought they were talking about his master, so his face went pale and he was terribly afraid.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cay đắng mùi đờiChánh Tâm nghĩ như vậy rồi tay chơn run bây bẩy, mặt mày tái xanh cặp mắt đỏ au, lỗ tai lùng bùng.
Having thought this, Chanh Tam began to tremble all over, face pale, eyes red, ears ringing.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Kẻ làm người chịuNói vừa dứt tiếng ngó lại thì thấy Thu Thủy mặt mày tái xanh, mà hai hàng nước mắt lại chảy ròng ròng nữa.
The words were barely out when, looking over, one saw Thu Thuy's face gone pale, with tears streaming down both cheeks.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Chúa tàu Kim QuiThầy hổ thẹn, mặt mày tái xanh, không nói được một tiếng, thò tay lượm cái khăn với phong thơ, rồi riu ríu ra về.
He was ashamed and his face drained of color; unable to say a word, he reached out, picked up the handkerchief and the letter, and meekly went home.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Thầy Thông ngônMấy cô lo sợ nên hồi hộp ngồi không yên, đứng không được, cứ lóng nhóng ngó chiếc ghe, nhìn chiếc tàu, mặt mày tái xanh.
The young women were so frightened they could neither sit still nor stand, and kept craning to look at the boat and at the ship, their faces pale.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Sống thác với tìnhTới dinh rồi, Lê-văn-Đó với Thu-Vân đứng xớ rớ ngoài sân, Thu-Vân thì mặt mày tái xanh, còn Lê-văn-Đó thì bộ tịch hầm-hừ lắm.
Once at the residence, Le-van-Do and Thu-Van hung about in the courtyard, Thu-Van pale in the face and Le-van-Do looking very sullen.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùaThằng Tý với con Quyên day lại, thấy cậu ba Giai đứng chần ngần giữa chòi thì kinh tâm loạn trí, mặt mày tái xanh, mở mắt nhìn cậu trân trân, mà không nói được một tiếng.
Ty and Quyen turned around and, seeing young master Ba Giai standing hesitant in the middle of the hut, were thrown into a panic, their faces pale; they stared at him wide-eyed without a word.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Cha con nghĩa nặngTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Bà Phủ riu ríu xuống, cặp mắt chớp lạch, mặt mày tái xanh, coi bộ sợ sệt lắm.”“Còn thằng Hồi, thì nó kinh hãi, đứng nép dựa vách mặt mày tái xanh.”“Thằng Được nghe nói mấy lời nghĩ là họ nói chuyện thầy mình, nên mặt mày tái xanh, lo sợ hết sức.”“Chánh Tâm nghĩ như vậy rồi tay chơn run bây bẩy, mặt mày tái xanh cặp mắt đỏ au, lỗ tai lùng bùng.”“Nói vừa dứt tiếng ngó lại thì thấy Thu Thủy mặt mày tái xanh, mà hai hàng nước mắt lại chảy ròng ròng nữa.”“Thầy hổ thẹn, mặt mày tái xanh, không nói được một tiếng, thò tay lượm cái khăn với phong thơ, rồi riu ríu ra về.”“Mấy cô lo sợ nên hồi hộp ngồi không yên, đứng không được, cứ lóng nhóng ngó chiếc ghe, nhìn chiếc tàu, mặt mày tái xanh.”“Tới dinh rồi, Lê-văn-Đó với Thu-Vân đứng xớ rớ ngoài sân, Thu-Vân thì mặt mày tái xanh, còn Lê-văn-Đó thì bộ tịch hầm-hừ lắm.”