Đôi-tôi is a rare old child-age expression in Hồ Biểu Chánh: giáp đôi-tôi means reaching the first-year or thôi-nôi milestone, while gần giáp hai đôi-tôi means nearly two years old.
Giải nghĩa & ghi chú cách dùng
Đôi-tôi là cách nói hiếm/cũ về mốc tròn năm tuổi của trẻ, hiện thấy rõ trong văn Hồ Biểu Chánh. Giáp đôi-tôi được bản chú thích giải là thôi nôi, tức sắp hoặc vừa tròn một tuổi tùy cấu trúc câu; nhưng gần giáp hai đôi-tôi lại có nghĩa gần tròn hai tuổi. Vì vậy không nên định nghĩa toàn đầu mục chỉ là lễ thôi nôi: cốt nghĩa trong các câu đã thấy là mốc một năm tuổi có thể đếm. Dạng đôi tôi không gạch nối được dùng để hỗ trợ tra cứu chính tả hiện đại, không phải một nghĩa khác. Nguồn hiện có chưa đủ để chốt cấu tạo hoặc từ nguyên sâu hơn, nên không dựng chữ Hán–Nôm hay nguồn vay.
Nét nghĩa được xếp theo độ thông dụng và ích lợi cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Cách nói hiếm/cũ chỉ mốc tròn năm tuổi của trẻ; giáp đôi-tôi là giáp thôi nôi/tròn một tuổi, còn hai đôi-tôi là hai mốc năm, tức hai tuổi.
🇬🇧 A rare old expression for a child's completed year of age: giáp đôi-tôi refers to the first-year milestone, while hai đôi-tôi counts two years.
Các cách nói cùng nghĩa ở nét này; độ tự nhiên có thể thay đổi theo vùng và người nói.
Ví dụ dùng từ:
Bà hỏi em nhỏ đã giáp đôi-tôi hay chưa để ước chừng tuổi.
She asks whether the child has reached the đôi-tôi milestone in order to estimate the child's age.
Source: VietLayers editorial exampleTrong câu này, giáp đôi-tôi được chú giải là giáp thôi nôi, tức gần tròn một tuổi.
Here, giáp đôi-tôi is glossed as approaching the thôi-nôi milestone, or nearly one year old.
Source: VietLayers editorial exampleĐứa bé gần giáp hai đôi-tôi nghĩa là gần tròn hai tuổi, không phải sắp dự hai lễ thôi nôi.
A child gần giáp hai đôi-tôi is nearly two years old, not about to attend two first-birthday ceremonies.
Source: VietLayers editorial exampleĐôi-tôi trong văn cũ hoạt động như một mốc năm tuổi có thể đi sau số từ.
In older writing, đôi-tôi functions as a countable yearly age marker.
Source: VietLayers editorial exampleNgười biên tập giữ đôi-tôi có gạch nối vì đó là cách viết trong bản nguồn.
The editor preserves the hyphenated form đôi-tôi because that is how it appears in the source edition.
Source: VietLayers editorial exampleDạng đôi tôi không gạch nối giúp người đọc tìm tới cùng mục đôi-tôi.
The unhyphenated spelling đôi tôi helps readers reach the same đôi-tôi entry.
Source: VietLayers editorial exampleKhông nên dịch mọi chữ đôi-tôi thành first-birthday ceremony vì câu hai đôi-tôi đang đếm tuổi.
Đôi-tôi should not always be translated as ‘first-birthday ceremony,’ because hai đôi-tôi counts age.
Source: VietLayers editorial exampleCâu hỏi đã giáp đôi-tôi chưa chỉ hỏi mốc tuổi, chưa nói gia đình có làm lễ hay không.
The question đã giáp đôi-tôi chưa asks about age and does not state whether the family held a ceremony.
Source: VietLayers editorial exampleTừ đôi-tôi hiện rất hiếm, nên bản dịch thường cần thêm lời giải về tuổi của trẻ.
Đôi-tôi is now very rare, so a translation usually needs a gloss explaining the child's age.
Source: VietLayers editorial exampleVì chưa có nguồn chắc về cấu tạo, mục đôi-tôi không được gán chữ Hán–Nôm suy đoán.
Because its formation is not securely sourced, the đôi-tôi entry is not assigned speculative Hán–Nôm characters.
Source: VietLayers editorial exampleCách dùng đã được đối chiếu trong tác phẩm
“em nhỏ đã giáp “đôi-tôi” hay chưa?”
“Con Thu-Vân nay đã gần giáp hai đôi-tôi rồi, coi thiệt là ngộ-nghĩnh, môi đỏ lòm như thoa son, mắt sáng ngời như sao đóng, nước da mỏng mà trắng nõn, cườm tay nhỏ mà no tròn, diện mạo giống hịch Từ-Hải-Yến như khuôn đúc.”