Cái đầu không còn một sợi tóc, vì cạo sạch hay vì rụng hết, nhìn trơn láng.
Tiếng Anh: A head without a single hair left, either shaved clean or completely bald.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Cái đầu không còn một sợi tóc, vì cạo sạch hay vì rụng hết, nhìn trơn láng.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Trọc là không có tóc, lóc là tiếng đệm làm cho cái trọc sạch trơn hơn. Trong kho văn Nam Bộ, đầu trọc lóc thường là đầu người đi tu, người cạo tóc vô chùa, và cũng là đầu người già hay người ốm yếu, đi với mình ốm teo, miệng móm xọm. Nó hay đứng giữa câu như một nét tả người, kẹp giữa hai dấu phẩy, hay đi với cạo, lòi ra.
🇬🇧 The first adjective means hairless, and the second syllable is an intensifier that makes the baldness smooth and complete. In the Southern corpus the shaven head most often belongs to someone entering religious life, and also to the old or the frail, next to a wasted body or a toothless mouth. It usually sits mid-sentence as one stroke in a portrait, set off by commas, or goes with verbs of shaving and of being uncovered.
Thí dụ:
Con vú thức dậy thấy Xuân Hương còn đương lạy phật mà cái đầu trọc lóc thì chưng hửng.
The nursemaid woke to find Xuan Huong still bowing before the Buddha, her head shaved bare, and was stunned.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Một đời tài sắcThị-Đằng day lại, bà lột cái khăn, lòi đầu trọc lóc, mà tóc lại bạc, rồi thủng-thẳng bước vô nhà.
Thi Dang turned around and took off her headscarf, uncovering a close-shaven head of white stubble, then walked slowly into the house.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Dây oanGiáo Sư, người thấp bé, ăn mặc rất khiêm tốn, cái đầu trọc lóc, thật kém đẹp, kém oai hơn sinh viên nhiều.
The Professor was short and slight, very modestly dressed, with a bald head, far less handsome and far less imposing than the students.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Ký ThácLàm thầy chùa, cạo đầu trọc lóc.
Becoming a monk, with the head shaved clean.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Hạnh phúc lối nàoVừa bước vô, cô thấy một ông già bảy tám mươi tuổi, đầu trọc lóc, miệng móm xọm, mang mắt kiếng đương cầm cuốn kinh ngồi mà coi, thì cô thất vọng nên đứng trân-trân.
As she stepped in she saw an old man of seventy or eighty, bald and toothless, wearing glasses and sitting reading a sutra, and in her disappointment she stood rooted to the spot.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Người thất chíThái Cẩm Vân ngồi bên đó, đầu trọc lóc, mình ốm teo, nàng cúi mặt xuống, tay bóp hai bàn chơn, rồi nàng châu mày, cặp mắt coi sâu hóm, mà trên trán lại đùn da mấy lằn.
Thai Cam Van sat there, head shaved bare, body wasted thin; she bowed her face, rubbed her feet, then knitted her brows, her eyes sunken, the skin of her forehead creased into several lines.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vì nghĩa vì tìnhTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Con vú thức dậy thấy Xuân Hương còn đương lạy phật mà cái đầu trọc lóc thì chưng hửng.”“Thị-Đằng day lại, bà lột cái khăn, lòi đầu trọc lóc, mà tóc lại bạc, rồi thủng-thẳng bước vô nhà.”“Giáo Sư, người thấp bé, ăn mặc rất khiêm tốn, cái đầu trọc lóc, thật kém đẹp, kém oai hơn sinh viên nhiều.”“Làm thầy chùa, cạo đầu trọc lóc.”“Vừa bước vô, cô thấy một ông già bảy tám mươi tuổi, đầu trọc lóc, miệng móm xọm, mang mắt kiếng đương cầm cuốn kinh ngồi mà coi, thì cô thất vọng nên đứng trân-trân.”“Thái Cẩm Vân ngồi bên đó, đầu trọc lóc, mình ốm teo, nàng cúi mặt xuống, tay bóp hai bàn chơn, rồi nàng châu mày, cặp mắt coi sâu hóm, mà trên trán lại đùn da mấy lằn.”