Cam lộ (甘露) is a Buddhist term used for amṛta, the life-giving ‘nectar’ of Indian religious tradition and a metaphor for the Buddha’s teaching; in literary Vietnamese it can figuratively mean something that deeply relieves or revives a distressed spirit.
Giải nghĩa & ghi chú cách dùng
Cam lộ là từ Hán–Việt 甘露, nghĩa mặt chữ là sương ngọt, được dùng trong từ vựng Phật giáo để chuyển tải Sanskrit amṛta/Pali amata: thứ nước thiêng gắn với hình ảnh không chết và, theo nghĩa biểu tượng, giáo pháp làm mát dịu khổ đau. Nước cam lộ là cụm mở rộng cùng trường nghĩa, thường gặp trong hình tượng Quan Âm và lời văn tôn giáo. Từ đó, văn chương có thể ví một lời an ủi, niềm hy vọng hoặc sự cứu giúp đúng lúc như cam lộ tưới vào lòng khô héo. Đây là biểu tượng tôn giáo–văn học, không phải tuyên bố một chất uống có công dụng trường sinh hay chữa bệnh. Phải phân biệt đầu mục này với địa danh Cam Lộ ở Quảng Trị và những tên riêng khác. Ghi chú cách dùng (không dùng làm bí danh): Phân biệt: Cam Lộ, Quảng Trị; thuốc trường sinh; nước chữa bệnh. Địa danh và các suy diễn y khoa không thuộc nghĩa từ vựng ở đây.
Nét nghĩa được xếp theo độ thông dụng và ích lợi cho người học:
2 nét nghĩa🇻🇳 Từ Phật học chỉ amṛta, thứ nước thiêng trong truyền thống Ấn Độ, đồng thời dùng làm ẩn dụ cho giáo pháp của Đức Phật và sự tưới mát lòng người.
🇬🇧 A Buddhist term for amṛta, the sacred nectar of Indian tradition, and metaphorically for the Buddha's teaching and its relief of suffering.
Các cách nói cùng nghĩa ở nét này; độ tự nhiên có thể thay đổi theo vùng và người nói.
Ví dụ dùng từ:
Trong bài giảng, cam lộ là hình ảnh của giáo pháp làm dịu cơn khát tinh thần.
In the sermon, cam lộ symbolizes the teaching that relieves spiritual thirst.
Source: VietLayers editorial exampleBức tượng Quan Âm cầm bình cam lộ, gợi cho người xem nghĩ tới lòng từ bi.
The statue of Guanyin holds a cam lộ vase, evoking compassion in the viewer.
Source: VietLayers editorial exampleNgười chú giải giữ chữ cam lộ rồi giải thêm rằng đây là thuật ngữ Phật học gắn với amṛta.
The annotator retains cam lộ and explains that it is a Buddhist term associated with amṛta.
Source: VietLayers editorial exampleNước cam lộ trong câu kinh là hình ảnh tôn giáo, không phải lời quảng cáo một thức uống trường sinh.
Nước cam lộ in the scripture is a religious image, not an advertisement for an immortality drink.
Source: VietLayers editorial exampleCụm giọt cam lộ gợi sự tưới mát và cứu khổ trong ngôn ngữ nhà Phật.
The phrase giọt cam lộ evokes refreshment and relief from suffering in Buddhist language.
Source: VietLayers editorial example🇻🇳 Nghĩa chuyển văn chương chỉ lời nói, tin vui, tình thương hay sự giúp đỡ đến đúng lúc, khiến một người đang đau khổ cảm thấy được an ủi và có sức sống trở lại.
🇬🇧 A literary metaphor for words, hope, affection, or timely help that deeply comforts and revives a distressed person.
Ví dụ dùng từ:
Tin người con trở về như cam lộ tưới vào lòng bà má đã mỏi mòn chờ đợi.
News of her child's return is like cam lộ poured into the heart of a mother worn down by waiting.
Source: VietLayers editorial exampleLời tha thứ ấy là cam lộ đối với người đã sống nhiều năm trong day dứt.
Those words of forgiveness are cam lộ to someone who has lived with remorse for years.
Source: VietLayers editorial exampleNhà văn ví câu an ủi như cam lộ vì nó làm lòng nhân vật đang khô héo dịu lại.
The writer compares the comforting words to cam lộ because they soothe the character's withering heart.
Source: VietLayers editorial exampleSự giúp đỡ đúng lúc đem một giọt cam lộ vào quãng đời tưởng đã bế tắc của ông.
Timely help brings a drop of cam lộ into a period of his life that had seemed hopeless.
Source: VietLayers editorial exampleDùng cam lộ theo nghĩa bóng là nhấn sức an ủi, chứ không nói người nghe thật sự uống một thứ nước nào.
Using cam lộ figuratively emphasizes consolation; it does not say that the listener literally drinks anything.
Source: VietLayers editorial exampleCách dùng đã được đối chiếu trong tác phẩm
“Tiếng cô khuyên chồng thiệt là dịu ngọt, tiếc vì tiếng ấy nói với Thượng Tứ chẳng khác nào nước cam lộ mà rót trên cục đá, rót thì uổng nước, chớ đá có biết mùi ngon ngọt chút nào đâu.”
“Cô Xuyến tuy nước mắt chưa ráo, song cô nhìn Giao và nhích miệng cười rất hữu duyên mà nói: “Tôi rất cám ơn em, cảm cái ơn rót nước cam lộ vào lòng tôi đương khô khan xào héo.”