Nghĩa của “bằng Thành Chung” là gì?
Văn bằng Thành Chung của hệ học Pháp Việt thời thuộc địa, thi sau bốn năm học trên bậc sơ học; có bằng nầy thì làm được giáo viên, thầy ký, thầy thông, hoặc học lên tú tài.
Tiếng Anh: The Thanh Chung diploma of the Franco-Vietnamese school system in colonial times, taken after four years of study beyond primary school; it qualified one to teach or work as a clerk.
Các nét nghĩa và giải thích chi tiết của “bằng Thành Chung”:
1 nét nghĩa🇻🇳 Tấm bằng Thành Chung của hệ học Pháp Việt thời thuộc địa, thường thi sau bốn năm học ở trường tỉnh hay trường Sài Gòn. Có bằng nầy thì được làm giáo viên, thầy ký, thầy thông, hoặc học tiếp lên tú tài; không nên đổi thẳng ra một văn bằng ngày nay.
🇬🇧 The Thanh Chung diploma of the colonial Franco-Vietnamese school system, usually taken after four years at a provincial school or a school in Saigon. It qualified one to become a teacher, a clerk or an interpreter, or to go on to the baccalaureate; it should not be equated directly with any present-day diploma.
Thí dụ:
Còn người nhỏ tên Thọ, 17 tuổi, học tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký dưới Sài Gòn 4 năm, thi lấy bằng Thành Chung rồi mới đi Tây hôm tháng trước mà học thêm.
The younger one, Tho, seventeen, studied four years at the Petrus Truong Vinh Ky school down in Saigon and took the Thanh Chung diploma before leaving for France last month to study further.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ái tình miếuCô thi đậu bằng thành chung.
She passed the Thanh Chung diploma.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Đoạn tìnhNgười đàn bà nầy là bà phán Lan, chồng chết đã năm năm rồi; còn cô thiếu nữ này là cô Cúc, con gái của bà phán, thi đậu bằng Thành chung, hồi chiều mới về tới nhà, nên ngồi ăn cơm tối với mẹ.
This woman was Madam Phan Lan, widowed five years; the young lady was Cuc, her daughter, who had passed the Thanh Chung diploma and had just come home that afternoon, so she was sitting at supper with her mother.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Hai khối tìnhNếu em có tiền cứ học tới hoài, thì em sẽ đi tới đâu lận, chớ không phải chỉ tới bằng thành chung đâu.
If you had the money to keep on studying, you would go much further, not stop at just the Thanh Chung diploma.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Mẹ ghẻ con ghẻHọc mãn bốn năm, thi bằng thành chung, Vĩnh Xuân giỏi nhất tự nhiên chiếm thủ khoa.
After four full years of study Vinh Xuan sat the Thanh Chung examination and, being the best, naturally came out first.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Tơ hồng vương vấnTý cố gắng đêm ngày, mà cũng nhờ cha mẹ an ủi chăm nom nên khi được 19 tuổi nó thi đậu bằng thành chung và được cấp bằng làm nữ giáo viên dạy trường con gái tại tỉnh lỵ Gò Công.
Ty worked hard day and night, and thanks also to her parents' comfort and care, at nineteen she passed the Thanh Chung diploma and was certified as a schoolmistress at the girls' school in the provincial town of Go Cong.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vợ già chồng trẻNhư là bằng Thành chung ngày xưa vậy.
Like the Thanh Chung diploma of the old days.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Khi Từ Thức Về TrầnMãi cho đến bốn năm sau, đỗ bằng Thành chung, tôi đã trưởng thành.
Not until four years later, when I passed the Thanh Chung diploma, had I grown up.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Nụ Cười, Nước Mắt Học TròTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“Còn người nhỏ tên Thọ, 17 tuổi, học tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký dưới Sài Gòn 4 năm, thi lấy bằng Thành Chung rồi mới đi Tây hôm tháng trước mà học thêm.”“Lúc bấy giờ học sinh đỗ bằng Cao-đẳng tiểu học Pháp-Việt, hay gọi là bằng Thành chung, có thể thi vào trường Cao-đẳng Hà-Nội, không cần có bằng Tú-tài.”Câu hỏi thường gặp về “bằng Thành Chung”
“bằng Thành Chung” nghĩa là gì?
Văn bằng Thành Chung của hệ học Pháp Việt thời thuộc địa, thi sau bốn năm học trên bậc sơ học; có bằng nầy thì làm được giáo viên, thầy ký, thầy thông, hoặc học lên tú tài.
“bằng Thành Chung” được dùng trong câu như thế nào?
Một câu trong Ái tình miếu của Hồ Biểu Chánh: “Còn người nhỏ tên Thọ, 17 tuổi, học tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký dưới Sài Gòn 4 năm, thi lấy bằng Thành Chung rồi mới đi Tây hôm tháng trước mà học thêm.”
Tiêu chuẩn thẩm định ngữ liệu tại VietLayers
Mức đối chiếu của mục từ được ghi ở đầu trang. Dẫn chứng có tên tác giả và tác phẩm được trình bày riêng với thí dụ biên soạn. Dẫn chứng về cách dùng không tự xác nhận nguồn gốc của từ. Phần chưa đủ căn cứ cần được đối chiếu thêm.